Thứ Bảy, 31 tháng 5, 2014

Ý thức hệ chỉ là giai đoạn thôi, tổ quốc mới trên hết.

Mặc Lâm
Nhà văn Tô Nhuận Vĩ
Tập sách “Bản lĩnh văn hóa, các bài viết và tiểu luận” của Tô Nhuận Vỹ, nguyên Tổng biên tập của Tạp chí Sông Hương dày 243 trang gồm 18 bài viết trong đó ghi lại một quãng thời gian khá dài con đường mà tác giả đã đi qua với cái nhìn của một nhà văn, nhà báo, và có thể nói ông cũng là một trong những người gan góc trong một chặng đường đổi mới cho văn học Việt Nam qua tạp chí Sông Hương.


Với nền dân chủ trong nước, Tô Nhuận Vỹ cùng tờ Sông Hương đã một thời vực dậy khái niệm này trong lòng người nông dân qua các phóng sự của một vùng đất cô độc nông sơ. Cho tới những cuộc thảo luận đầy sức nóng qua chủ đề “chính trị và văn nghệ” đã đẩy tạp chí này vào sự cô lập, đánh phá của những người nhân danh văn nghệ sĩ mà lịch sử văn học hiện đại đã từng gặp trong trận chiến Nhân văn Giai phẩm trước đây.

“Bản lĩnh văn hóa, các bài viết và tiểu luận” của Tô Nhuận Vỹ được nhà xuất bản Tri Thức phát hành có lẽ đem lại cho người quan tâm một đoạn đường tranh đấu cho dân chủ và ý thức trách nhiệm của người cầm bút, biết thêm những gắn bó mà người trong cuộc có cơ hội va đập với những lực cản mà chính ông nhận định là biết sai nhưng vẫn cố làm vì háo danh, tham lam vị trí trên chiếc chiếu đã ố vàng chính trị.

Mặc Lâm có cuộc trao đổi với tác giả cuốn sách, do thời gian hạn hẹp xin được tập trung vào chương “Tạp chí Sông Hương và bản lĩnh văn hóa” để người yêu sách có thêm cơ hội biết thêm những gì đã xảy ra cho tạp chí này.

Ưu tiên vấn đề dân chủ

Mặc Lâm: Thưa ông, khi về nhận trách nhiệm Tổng biên tập của tạp chí Sông Hương việc gì ông nghĩ là tờ báo này phải thay đổi và những chuyển biến ấy đã diễn ra như thế nào?
Tô Nhuận Vỹ: Ngay bản thân của Sông Hương lúc đó khẳng định một đường hướng của lúc đầu tiên thì chỉ lờ mờ chỉ ra cái hướng chính. Phương hướng mà chúng tôi phấn đấu ở các nội dung là “Cái cũ phải sâu, cái mới phải mạnh mẽ và nhìn ra thế giới”. Cái mới phải mạnh mẽ là sao? Không phải là dữ tợn, nhưng cái mới đối với Sông Hương không thể công khai trên báo chí ở mục này, mục kia, công khai nhiều điều… nhưng cái mới của nó chúng tôi cho rằng phải tập trung đặc biệt đối với tờ Sông Hương là chú ý tới vấn đề dân chủ đối với trí thức và trong xã hội.

Thực ra ưu tiên nhất là vấn đề dân chủ, những sự kiện nóng bỏng trong cuộc sống. Lúc đó chúng tôi đăng những bài đầu tiên theo cái mới như sau này đang xảy ra. Tôi cử phóng viên đi viết các bài theo chủ điểm thời sự này và chỉ đạo cụ thể. Một ví dụ là loạt bài “Luận chứng những tâm hồn đa cảm” về sự mất dân chủ ở vùng bán sơn địa Phong sơn hoặc với xã hội và trí thức trong bài “Vòng tròn Vĩnh cửu”. Hoặc Theo thuyền đánh cá mập, Cà xèng chon von… Đó là những chấn động đầu tiên ở báo chí Bình Trị Thiên lúc này. Sông Hương không phải là báo hằng ngày, lúc đó hai tháng mới ra một lần nhưng lần đầu tiên nói tất cả những bất mãn của nông dân đối với lãnh đạo về vấn đề dân chủ, nó bắt đầu vỡ ra khi loạt bài đó xuất hiện.

Bắt đầu là chấn động dữ, chấn động ngay bài đầu tiên và chúng tôi cho rằng cái mới nó mạnh mẽ nhiều thứ, tuy nhiên được chú ý trong mạnh mẽ ấy ngay từ đầu chúng tôi nghĩ là dân chủ. Tiếp sau đó là chủ đề “vòng tròn vĩnh cửu” đối với trí thức, với tất cả những cái gì không đúng. Lúc đó vấn đề dân chủ tất nhiên nó không mạnh mẽ như bây giờ, dữ dội như bây giờ nhưng so với lúc đó thì ghê gớm lắm.

Mặc Lâm: Trong những hoạt động đầy thử thách ấy ông nghĩ rằng điều gì khó khăn nhất mà Sông Hương phải gặp và đối phó?

Tô Nhuận Vỹ: Tôi xin nói với anh Mặc Lâm, cái khó trước hết là ngay trong văn nghệ, ngay trong Sông Hương. Bởi vì bao nhiêu năm trời người ta quen theo một cách rồi. Những người đố kỵ, sợ hãi ở ngay trong Sông Hương và trong Hội Văn học nghệ thuật, chưa nói tới những cơ quan khác.

Tạp chí Sông Hương
Bây giờ cũng vậy, những chủ trương lớn đưa ra trong văn học thì trước hết bị phản ứng từ ngay những cái cũ kỹ, ngay trong văn nghệ, trong đội ngũ văn học. Lúc đó Sông Hương bị thế này, thế kia người ta cho rằng vì bài này, bài kia nhưng trong thực tế tôi xin nói với anh Mặc Lâm là những bài “có vấn đề” thì Sông Hương có hơn 30 bài.

Ví dụ như bài của Trần Vàng Sao “Người đàn ông 43 tuổi nói về mình” hay “Nhìn từ xa Tổ quốc” của Nguyễn Duy, “Huyền thoại Mẹ” của Trịnh Công Sơn, hoặc là loạt truyện ngắn và kịch của Nguyễn Huy Thiệp (Kịch Nguyễn Thái Học)… Sau này in thành sách Nguyễn Huy Thiệp, tác phẩm và dư luận. Những bài loại đó đều có sức công phá. Tuy nhiên, các loại bài “bùng nổ” đó, có người công kích thì cũng có người quý hóa. Cái mà khi động đến là “bị” dính đòn toàn diện là khi chạm đến quan hệ giữa văn nghệ và chính trị.

Mặc Lâm: Thưa ông vừa nói tới quan hệ giữa chính trị và văn nghệ làm tôi nhớ Sông Hương đã từng công khai về vấn đề rất cấm kỵ này, ông vui lòng cho biết thêm chi tiết câu chuyện đó như thế nào?

Tô Nhuận Vỹ: Khi tôi tổ chức cuộc trao đổi quan hệ giữa chính trị và văn nghệ mở mục trao đổi này trên tạp chí Sông Hương, kéo dài trong mấy số, thật sự cái gót chân Asin (Achilles) trong tổ chức Đảng Cộng sản đối với văn học là cái này. Trước đó, cốt lõi của bài nói chuyện của Mao Trạch Đông ở Diên an đã như một kim chỉ nam trong đầu óc nhiều người lãnh đạo Văn nghệ. Nhiều tác giả có tiếng gan góc như Lại Nguyên Ân, Phạm Xuân Nguyên,Nguyễn đăng Mạnh… rồi cả Trần Độ nữa, tham gia vào cuộc trao đổi này. Chỉ mới khởi đầu thôi nhưng đúng vô “chỗ hiểm”, lập tức Tạp chí Cộng sản có bài phê phán chúng tôi ngay.

Thực ra đến bây giờ lúc nào muốn có đổi mới trong văn nghệ cũng vẫn là giải quyết mâu thuẫn giữa hai phạm trù này. Nó là hai chứ không phải là một. Nó liên quan đến nhau nhưng là hai mà người chính trị cũ kỹ thì luôn muốn là một.

Tôi muốn xây dựng, khát khao đóng góp một điều gì đó phải hơn, đúng hơn. Nhiều anh em trong Sông Hương lo ngại là chính vì lúc đó họ huy động cả đến chị em chợ Đông Ba ra mà đánh Sông Hương, lúc đó chúng tôi rất cô đơn.

Giai đoạn đầu có một số tờ báo ở phía Nam, như Tuổi Trẻ và kể cả Sài Gòn Giải phóng thời Tô Hòa, rồi chỗ Kim Hạnh của Tuổi Trẻ. Đợt hai mới căng, mới bắt đầu các vụ quan hệ chính trị văn nghệ. Họ dẹp trong kia, dẹp một số anh em mạnh mẽ lúc đó. Tuy bị đánh tôi vẫn bảo lưu ý kiến. Trong thực tế, tôi không làm được gì nhiều, tuy nhiên tôi có điều là kiên định, kiên định là khó nhất.

Không trách lời nói chân thành

Mặc Lâm: Qua giai đoạn bị đánh, bị cô lập và thậm chí mất như gần hết người ủng hộ, ông nhận xét thế nào về những cá nhân đã nhúng tay vào việc trù dập Sông Hương?

Tô Nhuận Vỹ: Trong các ứng xử xung quanh vụ Sông Hương có những người họ đánh một cách chân thành, tôi không trách, họ nghĩ là tôi đang chống tổ quốc, coi chừng ở nước ngoài nó điều khiển. Nhưng lý luận văn học thì họ hoàn toàn không được học một ngày, không hiểu một cái gì cả cho nên tôi không trách những người đó.

Tôi trách những người thường ở trong văn nghệ hay đổ thừa cho tuyên huấn và công an. Trong tuyên huấn và công an nhiều người có được học đâu? Nhưng nếu tuyên huấn có loại được học, học mà cuối cùng cũng không hiểu, hiểu mà không chịu làm theo cái hiểu của mình thì điều đó không được và đáng trách nhất. Đối tượng mà tôi phải vượt qua, khó nhất là số người đó. Tôi tránh là chính, tránh để thực hiện việc của mình vì thế cho nên thường thường khi tôi làm Tổng biên tập tôi không coi thường mọi người, nhưng vì có quy định lúc đó của Ban bí thư dựa vào Luật báo chí là Tổng biên tập chịu trách nhiệm tất cả từng chữ trước pháp luật.

Nhà văn Tô Nhuận Vỹ (trái), nhà văn Nguyễn Đắc Xuân cùng các văn nghệ sĩ tại Huế biểu tình phản đối Trung Quốc hôm 11/5/2014
Tôi dựa vào đó mà làm và không báo cáo cho bất cứ ai. Khi ra cuốn sách “Nguyễn Huy Thiệp, tác phẩm và dư luận” thì tôi không xin phép ở Sở văn hóa thông tin Bình Trị Thiên, bởi vì nó sẽ báo cáo lên Ban tuyên giáo. Tôi liên kết với nhà xuất bản Trẻ với Trương Văn Khuê, tôi chịu trách nhiệm nội dung.

Bình thường lúc đó, Nguyễn Khoa Điềm đã đánh giá truyện của Nguyễn Huy Thiệp là một mặt bằng khác của truyện ngắn Việt Nam, tức là bản thân Điềm, Điềm đã biết giá trị của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp nhưng nếu tôi xin phép ra sách của Nguyễn Huy Thiệp thì Điềm sẽ không đồng ý, cho nên tôi không xin, tránh cho họ một việc khó xử. Tất nhiên họ không ủng hộ, họ sợ. Nó sẽ khác khi mà trực tiếp xin phép. Cho nên, tất cả các bài vở chỉ có tôi trong ban lãnh đạo và Phó Tổng biên tập quyết định thôi. Không bao giờ phải xin ai mới có được một số lượng bài vở như vậy, còn nếu không cứ nhất bộ nhất bái thì sẽ không được như vậy.

Mặc Lâm: Xin được hỏi trong tình hình Biển Đông và giàn khoan của Trung Quốc hiện nay, nếu ông còn là một Tổng biên tập của tạp chí này thì ông sẽ yêu cầu ban biên tập viết những gì?

Tô Nhuận Vỹ: Thật ra bây giờ mà làm Sông Hương vừa có cái dễ và vừa có cái khó. Lúc tôi làm Tổng biên tập ngoài việc cần phải có trình độ ra, còn cần dũng khí, rất cần dũng khí. Nếu anh vì dân vì nước thật thì anh mới dám làm, lúc đó ít có tờ nào như thế cho nên tự nhiên người ta chuộng và người ta hoan nghênh và anh bị đánh là tất nhiên. Nhưng bây giờ, những vấn đề nhạy cảm, “nháy nháy” thì họ không dám nhảy vô.

Ngay việc biển Đông, bây giờ thì có một chút hy vọng, nhưng trong thực tế việc lẽ ra phải làm hàng chục năm về trước, ví dụ riêng như việc vĩ tuyến 17, phía sau là Việt Nam Cộng Hòa quản lý hết tất cả những đảo đó, và họ chiến đấu ra sao? Tất cả đến bây giờ mới công khai chuyện đó là quá trễ tràng. Nếu anh thực sự nghĩ tổ quốc trên hết thì anh khai thác điều này từ lâu rồi, lấy Hoàng Sa – Trường Sa chính từ miền Nam. Mấy năm nay, báo Tuổi Trẻ báo Thanh Niên thay nhau đăng chuyện phải tôn vinh hải quân Việt Nam Cộng Hòa đã chiến đấu, dần dần cho đến bây giờ.

Nhưng chính Trung Quốc do nó quá ngang ngược, nó đẩy một số anh quá u mê không thể kém cỏi hơn được nữa lâu như vậy. Lẽ ra những việc đó thì quá rõ ràng. Đối với chúng tôi, đối với rất nhiều người Tổ quốc là trên hết, không có gì cao hơn. Nếu anh thực sự xem tổ quốc trên hết thì anh đã khai thác cái này 20 năm nay rồi.

Quốc hội vẫn đăng những ý kiến như tôi nói và đăng rất nhiều, nhưng có những tờ báo không dám nói. Thường thì các anh nhà văn phải mạnh mẽ đi trước, bên chính trị đã nói rồi, thế thì anh còn đợi gì nữa? Bây giờ có cái gì ghê gớm đến nỗi vẫn còn không dám nói?

Điều này phải công khai và mạnh mẽ nhưng không đả kích nữa. Phải khai thác Hoàng Sa - Trường Sa, toàn bộ phải đặt tổ quôc lên trên hết chứ không phải tổ chức đảng hay ý thức hệ… Ý thức hệ chỉ là giai đoạn thôi tổ quốc mới trên hết. Xu hướng đó nếu đưa ra cách đây 40 năm hay vài chục năm thì tình hình có thể khác đối với Trung Quốc.

Thủ Tướng nói một câu rất hay như vậy, thế thì tư duy nhà văn các ông phải nói như thế nào nữa chứ, chứ không phải chừng đó. Có một cái dở là nhà văn phải đau nỗi đau lớn nhất của đất nước nhưng họ đều đứng bên ngoài. Vậy nó là cái gì? Trong lúc cả đất nước như vậy, văn chương chữ nghĩa là đó chứ không phải là cái gì khác. Tôi bây giờ nếu làm Tổng biên tập Sông Hương thì những nội dung tôi nói với anh chắc chắn phải được nêu lên.

Mặc Lâm: Xin cảm ơn nhà văn Tô Nhuận Vỹ.

..................

Tên bài của Quê Choa, tên gốc:Nhà văn Tô Nhuận Vỹ và tạp chí Sông Hương


 

Giàn khoan HD 981 sẽ di chuyển dọc theo “đường lưỡi bò” và “cắm mốc” ở Trường Sa?

Reuters
Nếu Việt Nam chậm trễ, chần chừ, thiếu quyết đoán trong hành xử và cộng đồng quốc tế làm ngơ, Trung Quốc sẽ leo thang. Sau khi “bịp” dư luận ở Hoàng Sa, họ bắt đầu di chuyển giàn khoan DH 981 xuống vùng biển phía Nam biển Đông, đồng thời "cắm mốc" từng điểm một trên mặt biển như đường lưỡi bò phi lý đã vẽ. Đó là nước cờ tiếp theo trong ván bài lớn ở Biển Đông với “điểm đến” là mỏ dầu khổng lồ ở vùng biển Trường Sa.


ĐÁNH LỪA DƯ LUẬN

Trung Quốc tuyên bố đã thực hiện xong giai đoạn đầu tiên của quá trình thăm dò.

Tuy nhiên, cho đến giờ, họ không đưa ra bất kỳ kết quả cụ thể nào từ việc thăm dò. Dù việc hoạt động của giàn khoan rất tốn kém, lên đến cả triệu USD mỗi ngày cộng thêm chi phí duy trì một đội tàu đông đảo xung quanh giàn khoan thăm dò “trộm” này, nhưng triển vọng để Trung Quốc tìm ra khí đốt tại khu vực này không cao.

Trong khoảng 3 tuần lễ, họ hạ đặt giàn khoan ở vùng biển sâu khoảng 1.000 mét, khoan thăm dò khoảng 1.000 mét nữa. Nếu tính theo logic về kỹ thuật, đây là "chuyện vô lý". Thế nhưng, các chuyên gia của Trung Quốc vẫn nhắm mắt “phán” bừa.

Wu Shicun (chủ tịch Viện Nghiên cứu Biển Đông) tuyên bố: "Nơi mà các giàn khoan đang thăm dò tại thời điểm này có thể sẽ là một mỏ khí đốt. Trung Quốc đã tiến hành khảo sát địa chất ba chiều trước khi chuyển các giàn khoan ở đó". Ông này lý luận một cách phi lý, Trung Quốc khá tự tin trong các đánh giá, nếu không họ sẽ không bắt đầu khoan.

Kiểu phát biểu ngụy biện về trữ lượng dầu mỏ ở vùng biển gần Hoàng Sa (thuộc chủ quyền Việt Nam) chẳng khác nào đánh lừa dư luận. Trên thực tế, các công ty thăm dò khai thác dầu của Mỹ đã khảo sát và đánh giá trữ lượng dầu và khí đốt ở vùng bắc biển Đông không nhiều.

Có thể khẳng định, việc hạ đặt giàn khoan của Trung Quốc là một hành động chính trị.

HD 981 tại Hoàng sa chỉ là phép thử phản ứng của Việt Nam và quốc tế.

alt

CHUẨN BỊ “CẮM MỐC” Ở TRƯỜNG SA ?

Những khảo sát của các hãng thăm dò uy tín trên thế giới cho thấy vùng biển phía nam biển Đông mới là nơi có trữ lượng dầu và khí đốt khổng lồ. Điều này khiến cho Trung Quốc thèm khát cho dù vùng biển này ở cách rất xa bở biển Trung Quốc.

Nếu không tìm kiếm được gì trong quá trình thăm dò phi pháp tại vùng biển gần Hoàng Sa, giàn khoan của Trung Quốc có thể sẽ "liếm" xuống quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Lin Boqiang (Giám đốc Trung tâm Trung Quốc Nghiên cứu kinh tế năng lượng tại Đại học Hạ Môn, đồng thời là một cố vấn quản lý năng lượng quốc gia của Trung Quốc, cơ quan quản lý hàng đầu của ngành công nghiệp năng lượng của Trung Quốc ) cho biết: " Nó sẽ di chuyển vào vùng nước sâu ở các khu vực khác của biển Đông".

Theo lý lẽ này, việc thăm dò phi pháp ở gần Hoàng Sa hiện nay chỉ là một cách tạo tiền lệ để thử phản ứng của quốc tế. Còn mục đích và địa điểm tiếp theo của giàn khoan Haiyang Shiyou 981 có thể là ven biển của Việt Nam, Philippines, Malaysia, Indonesia hay bất kỳ nước nào trong khu vực miễn là nằm trong cái "lưỡi bò" mà Trung Quốc tự vẽ ra.

Thậm chí, nếu không bị phản đối mạnh mẽ, Trung Quốc còn có thể mang giàn khoan ra biển Hoa Đông nơi họ tranh chấp với Nhật, nơi được dự báo có trữ lượng dầu mỏ cao. Do vậy, Reuters đã kêu gọi, "ngay từ bây giờ cộng đồng quốc tế cần lên án và có hành động thích hợp để chặn đứng một tham vọng ngông cuồng của Bắc Kinh".

Ngay từ bây giờ, Việt Nam nên chuẩn bị lực lượng ở Trường Sa để khỏi rơi vào thế bị động.

  (Nguồn : Reuters)

Chúng ta không "đề nghị", phải "yêu cầu" và "bắt buộc" Trung Quốc rút giàn khoan

Nhà văn Đình Kính

Nhà văn Đình Kính
NQL: Sau khi đọc bài phát biểu của Đại tướng Phùng Quang Thanh tại Shangri-La , trên Fb người thở dài kẻ văng tục. Đây là ý kiến chính thức đầu tiên mà Quê Choa vừa nhận được. Nhà văn Đình Kính là một người lính biển, suốt đời gắn bó với biển, có lẽ vì thế ông quá đau khi thấy Biển đã mất, đang mất và không chừng sẽ mất nếu  cứ tiếp tục hết " trao đổi với bạn" đến " đề nghị". Than ôi!

 Đọc bài phát biểu của người đứng đầu Quân đội nhân dân Việt Nam, một đất nước độc lập, có chủ quyền, tự hào với ngàn năm văn hiến tại hội nghi đối thoại Shangri-La ở Singapore trưa 31 tháng 5 năm 2014, không những không vui, mà buồn !

…  Bộ trưởng cho biết, quan hệ giữa Việt Nam và nước bạn láng giềng TQ về tổng thể trên các mặt đang phát triển tốt đẹp, chỉ còn tồn tại vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông và đôi khi cũng có những va chạm gây căng thẳng như sự việc ngày 1/5/2014, TQ đã đơn phương hạ đặt giàn khoan nước sâu Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, đã gây bức xúc cho nhân dân Việt Nam, gây lo ngại cho các quốc gia trong khu vực và cộng đồng quốc tế. (ViêtNamNet- 31-4-2014).

 Thưa Bộ trưởng, không phải là "đôi khi" mà đó là máu bành trướng và thôn tính biển Đông mang tính chiến lược lâu dài, mà bất cứ hành động nào đối với Việt Nam hàng thập niên qua đều nằm trong ý đồ đó của họ. Chỉ cần điểm lại mấy sự kiện lớn, không tính các sự việc lặt vặt, từ 1974 đến  2015 này, đã có bao nhiêu "đôi khi"?

 Và dùng chữ đôi khi cũng có những va chạm, là đánh đồng kẻ ăn cướp với chủ nhà đấy. Việt Nam đâu va chạm với Trung Quốc. Họ cố tình kéo quân vào Biển của ta đấy chứ. Và với sự kiện kéo dàn khoan 981 rồi đặt hạ vào thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam còn gọi là va chạm nữa không?

 Người đứng đầu Quân đội Việt Nam nói tiếp: Chúng tôi đề nghị TQ rút giàn khoan ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam và cùng Việt Nam đàm phán để giữ được hòa bình ổn định và quan hệ hữu nghị hai nước. Điều đó có lợi cho hai nước, cho cả khu vực và thế giới…. (ViêtNamNet- 31-4-2014).

 Kẻ cướp nó kéo cả một cái giàn khoan to như cái Hàng không mẫu hạm, với trên dưới trăm tầu hộ tống bảo về, rồi đặt chình ình trong sân nhà mình vậy mà chủ nhà lại chỉ đề nghị nó rút đi, nghe có buồn không? Đề nghị, có nghĩa là nó không có lỗi xâm lược; đề nghị có nghĩa là nó muốn rút hay không rút, tùy nó. Tại Sao không yêu cầu nó rút, không bắt buộc nó rút, mà lại đề nghị? .( Rất hy vọng rằng báo chí đã dẫn sai, để dân khỏi buồn!).

 Khi kéo giàn khoan vào Biển Đông, Việt Nam có trên dưới 20 cuộc thương thảo với Trung Quốc, nhưng hoặc họ hờ hững, chiếu lệ, hoặc cả vú lấp miệng em, cãi bay, thậm chí ta muốn gặp ở cấp cao hơn, họ từ chối, trong khi đó họ đón những người lãnh đạo Căm pu Chia và Ma lai rất trọng thể. Hãy hiểu bản chất của Trung Quốc để mà không hy vọng!

 Nhân dân Việt Nam không đề nghị, nhân dân Việt Nam yêu cầu và bắt buộc Trung Quốc phải rút ngay giàn khoan 981 và tàu hộ tống ra khỏi thêm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế việt Nam!

Tác giả gửi Quê Choa

Người Buôn Gió, từ giang hồ đến cải cách xã hội

 Hà Giang thực hiện
Blogger Người Buôn Gió với phóng viên Hà Giang
Người quan tâm đến tình hình đất nước có lẽ ai cũng quen thuộc với tên gọi blogger Người Buôn Gió. Người Buôn Gió tên thật là Bùi Thanh Hiếu, tác giả nhiều loạt bài, trong đó có “Ðại Vệ Chí Dị,” “Thư Viết Cho Con Trai”... với lối viết giản dị, dí dỏm, và sâu sắc. Blogger Người Buôn Gió là ai? Ðiều gì khiến ông trở thành người dùng ngòi bút làm phương tiện cải cách xã hội?


 Hiện đang tham dự chương trình học bổng nghệ thuật của thành phố Weimar, Ðức Quốc, Blogger Người Buôn Gió hé lộ với phóng viên Hà Giang vài nét chính về con người và cuộc đời mình, trong buổi chuyện trò sau đây, tại tòa soạn nhật báo Người Việt.

Hà Giang (NV): Chào blogger Người Buôn Gió, đọc văn thì người đọc cũng có thể đoán ra con người của tác giả Người Buôn Gió, tuy nhiên nhiều người vẫn muốn nghe chính tác giả nói về mình, anh có thể cho độc giả của Người Việt biết blogger Người Buôn Gió là ai, và tại sao lại đi... buôn gió?

Blogger Người Buôn Gió: Thực sự, tôi chỉ như bao thanh niên ở Việt Nam ở trong những khu phố mà người ta gọi là khu phố bụi đời, nơi chứa nhiều thành phần giang hồ, xã hội đen. Cuộc sống của tôi cũng có lúc sống bằng nghề đâm thuê chém mướn, đòi nợ thuê, cũng có lúc cờ bạc, thậm chí là trộm cắp. Mọi người có thể hình dung là cuộc sống ấy nó khó hiểu nhưng mà tôi sinh ra ở cái khu phố như thế và tất cả mọi người đều làm những việc như thế thì tôi cũng làm theo, tôi không tiếp xúc được với xã hội bên ngoài, với xã hội văn minh và lớp người trí thức, mà tôi chỉ biết sống ở trong đấy thôi, và tôi trở thành một người cũng “xuất sắc” trong cái đám lưu manh ấy.

NV: Anh nói đến một khu phố bụi đời với những chàng trai sống lăn lóc, vậy khu phố đó là ở đâu?

Blogger Người Buôn Gió: Nơi tôi sinh ra nó là một cái ngõ nhỏ tên là Phát Lộc, ngoài Bắc, nó nằm ở chợ Ðồng Xuân-Bắc Qua, một nơi chứa chấp nhiều giới giang hồ hảo hán, dân số khoảng vài nghìn người. 

NV: Blogger Người Buôn Gió bao nhiêu tuổi rồi?

Blogger Người Buôn Gió: Vâng, tôi sinh năm 1972.

NV: Tới một lúc nào thì con người giang hồ lăn lóc bụi đời đó quyết định thôi giang hồ và bắt đầu viết lách, và điều gì, biến cố gì đã thôi thúc Người Buôn Gió phải cầm bút?

Blogger Người Buôn Gió: Khi tôi lấy vợ thì tôi vẫn làm công việc cầm đồ, cá độ bóng đá, tiêu thụ của gian, nói chung thì những cái việc ấy nó liên hệ với nhau. Sau đấy năm 2005 thì vợ tôi sinh con. Khi vợ tôi chuyển dạ sinh thì tôi đưa vợ tôi vào bệnh viện. Khi vào bệnh viện, các bác sĩ người ta bảo đưa tiền hối lộ thì người ta sẽ chăn sóc vợ con tôi. Lúc tôi đưa tiền cho người ta thì tôi thấy đó là lẽ tất nhiên, cả một cái xã hội toàn dùng tiền hối lộ, ở đâu cũng phải hối lộ thì hối lộ nó thành thói quen thôi. Nhưng nó xảy ra trường hợp là vợ tôi khó đẻ, và khó đẻ thì phải chuyển qua phòng mổ. Nhưng phòng đỡ đẻ thì người ta muốn lấy tiền hối lộ, nên họ giữ vợ tôi ở đấy. Vì thế sau ba tiếng đồng hồ vỡ ối, con tôi chưa được sinh ra, họ đợi đến hết giờ ca trực ấy, khi đổi qua ca trực khác thì mới chuyển, vì như thế thì ca trực khác mới được tiền (hối lộ). Khi họ chuyển vợ con tôi qua phòng mổ thì con tôi tím ngắt và tái mét. Họ nói con tôi bị bệnh tim. Nhưng nhiều người bảo nếu bệnh tim thì khám thai phải biết rồi, hoặc gia đình có tiền sử bệnh tim, mà gia đình tôi không ai có bệnh tim, còn con tôi trong quá trình khám thai thì không có vấn đề gì. Ðây là cháu bé trong ba tiếng đồng hồ đó nó bị sặc nước ối, vì nước ối vỡ ra rồi, nó uống vào.

Lúc ấy họ bảo, bây giờ muốn chữa thì phải tốn tiền, thế là tôi lại phải đưa tiền cho họ, nói tóm lại hối lộ rất là nhiều, từ y tá đến bác sĩ, ai cũng nói đến tiền. Họ hỏi thì tôi cứ đưa tiền ra, không thiết tha gì khác. Con tôi cuối cùng khỏe mạnh được về nhà. Khi về nhà được khoảng hai tháng thì một hôm tôi nhìn con tôi đang nằm, nó mủm mỉm, nó cười. Tôi nhìn, tôi mới nhớ lại chuyện hôm nó sinh ra, tôi mới chợt nhận ra rằng tôi từng cầm dao tôi đi chém người để tôi lấy tiền, thì tôi hình dung việc của tôi với việc ông bác sĩ ông ấy cầm dao mổ, tôi bàng hoàng nhận ra là có khi họ cũng giống mình.

Khi tôi nhận ra một cái điều như thế, thì tôi tự hỏi tại sao xã hội nó lại như thế. Tôi nhận tôi là một thằng lưu manh giang hồ, tôi đâm thuê chém mướn, tôi kiếm tiền... mà hình ảnh của người bác sĩ ở trong tôi ấy, thì tôi vẫn nghĩ những người ấy gọi là lương y như từ mẫu, không quản ngại điều gì để giúp mình, mà bây giờ người ta cũng cầm dao người ta kiếm tiền, và người ta cũng có thể bỏ mặc người khác chết để người ta kiếm tiền. Tôi thấy sự tàn nhẫn của họ có khi còn xuất sắc hơn tôi.

Thật ra khi tôi đi đâm chém thì chỉ là dân giang hồ với nhau, chứ tôi chẳng bao giờ đi tìm một người hiền lành nào tôi uy hiếp người ta để tôi kiếm tiền, mà toàn là dân giang hồ mâu thuẫn vì chia chác các thứ hay là nợ nần nhau. Bây giờ đến một người bác sĩ mà người ta cũng như thế thì tôi không hiểu cái xã hội này bây giờ nó ra thế nào. Nghĩ thêm thì tôi thấy không riêng chỉ bác sĩ, mà thầy giáo rồi công an cũng như thế, cả xã hội nó như thế.

Tôi nghĩ bây giờ mình sinh con mình ra rồi, và xã hội nó như thế này, để cho con mình nó tồn tại, thì mình dạy cho con mình cái gì? Mình lại phải dạy cho con mình biết cách hối lộ, biết cách luồn lọt, biết cách kiếm chác lưu manh thì tôi thấy mình sinh ra một người con, nuôi cho lớn mà phải dạy nó những điều ấy, thì nói thật lòng, thà không sinh nó ra.

Lúc đó tôi mới viết bài đầu tiên là bài ”Thư viết cho con trai.” Tôi viết một chuyện châm biếm là trong xã hội như thế này, khi con lớn lên đi học mẫu giáo, đi ra ngoài con phải cảnh giác là luôn cầm tiền trong người, bố sẽ đặt tên con là Bùi Minh Huấn, tức là con có được lời giáo huấn sáng suốt.
Bài viết đó có nhiều người đọc và khen. Thật ra thì cũng chẳng phải là người ta khen. Người thì khóc, người thì cười, tức là nó mang lại cho người đọc nhiều cảm xúc. Tôi thấy là mình có thể có một cách cải cách cái xã hội này qua ngòi bút của mình. Nghĩ thế, tôi bắt đầu chú ý viết.

NV: Buôn Gió có nghĩa là gì, và từ đâu lại có cái tên Người Buôn Gió?

Blogger Người Buôn Gió: Lúc đầu, khi mới viết, tôi chỉ lấy tên thật là Bùi Minh Hiếu thôi. Sau đó tôi nghĩ mình không phải là muốn truyền bá tư tưởng, mà chỉ muốn nhân rộng suy nghĩ của một người cha, muốn những điều tốt cho con mình, cho thế hệ sau, nhân rộng nó đi khắp nơi, thì tôi chọn cái tên Người Buôn Gió, tức là tôi mong muốn cái tình cảm của một người cha, trách nhiệm với người con, với xã hội, được nhân rộng, tôi chọn cái tên ấy.

NV: Những nhận thức về xã hội chung quanh của blogger Người Buôn Gió có phải đến lúc có con, lo cho con rồi mới có, hay là những điều đã tiềm ẩn trong anh lâu rồi?

Blogger Người Buôn Gió: Nhận thức thì vẫn luôn luôn có chứ, nhưng nó không khiến được mình thay đổi, vì như nhiều người Việt Nam mình, khi họ nhìn những sự trái ngang đó, thì họ coi đó là một điều bình thường và họ tìm một cách nào đó, hối lộ, luồn lách, móc ngoặc thế nào đó để mà vượt qua. Thì tôi cũng là một người như thế. Nếu mà tôi không có cậu con trai của tôi, thì tôi vẫn là một người như thế thôi. Nhưng khi đã có người con rồi thì suy nghĩ của tôi lúc đó không phải là về tôi nữa mà là về thế hệ của con tôi, và chính vì thế mà tôi viết. Nói tóm lại, đánh giá về xã hội như thế thì nó có sẵn trong người rồi, nhưng mình không muốn làm cái gì để thay đổi nó, mình chấp nhận nó là đương nhiên như thế. Nhưng khi mình đặt vấn đề con mình nó cũng phải chấp nhận như thế là một chuyện đương nhiên thì đó là một điều đau lòng, và tôi không muốn như thế, nên tôi phải viết.

NV: Việc viết lách trong xã hội Việt Nam đã mang đến cho blogger Người Buôn Gió nhiều khó khăn trong cuộc sống, vậy người phối ngẫu của anh có ý kiến gì không?

Blogger Người Buôn Gió: Ðầu tiên thì vợ tôi phàn nàn rất nhiều. Gia đình bên vợ tôi, ông của vợ tôi là tướng trong quân đội (Bắc Việt), gia đình bên vợ tôi cũng thuộc thành phần trí thức, ông bà đều là lão thành cách mạng. Nhưng khi tôi bị bắt năm 2009 thì lúc đấy gia đình vợ tôi mới biết chuyện. Họ tìm hiểu xem tại sao tôi bị bắt, họ đọc những bài của tôi, họ nói “ôi mẹ cái thằng này nó viết hay đấy, nó viết đúng quá.” Lúc ấy thì vợ tôi thất vọng, tưởng là mọi người biết anh ấy làm như thế thì khuyên anh ấy, chứ bây giờ bên nội bên ngoại cùng khen như thế này, thì vợ tôi cũng vui vẻ.

NV: Sau khi những bài viết của blogger Người Buôn Gió được gia đình bên vợ đọc, thành phần giao tiếp của anh có thay đổi không? Có tạo được ảnh hưởng gì không?

Blogger Người Buôn Gió: Sau khi mọi người trong họ hàng đọc thì họ thành độc giả của tôi. Họ thường xuyên đọc. Gọi cho bạn bè. Thậm chí, tôi có ông chú với bà cô lúc nào cũng đi khoe “tôi là ông chú, tôi là cô cái thằng Buôn Gió.”

NV: Con trai của blogger Người Buôn Gió bây giờ cũng chín tuổi rồi, và anh đã viết cho con rất nhiều bức thư, thế cha con anh có bao giờ ngồi và nói với nhau những câu chuyện tương tự như nội dung của những bức thư đó không?

Blogger Người Buôn Gió: Cháu cũng đọc những bài tôi viết. Có những lúc đi học về cháu chưa phải làm bài, cháu rất là khệnh khạng, ngồi vào máy tính, xong cháu Google xem hôm nay Người Buôn Gió viết cái gì, rồi cháu ngồi đọc. Chúng tôi không thảo luận về những thư tôi viết cho cháu, chỉ có một cái truyện tôi viết về tuổi thơ của tôi, thì cháu có hỏi lúc ấy bố bé, bố như thế nào thế nào, thì tôi kể cho cháu nghe. Tôi tâm sự với cháu, chẳng hạn như bố thương bà nội thì bố nấu cơm, bố làm các việc giúp bà, hay là thương ông nội thì tôi làm gì.

NV: Trở lại với cái cái chữ Buôn Gió, chắc hẳn hai chữ này với anh phải có một ý nghĩa gì đó sâu sắc lắm?

Blogger Người Buôn Gió: Chúng ta người nào cũng có một ước mơ, thí dụ ước mơ cải cách xã hội, ước mơ xã hội được dân chủ, cái tên Buôn Gió nó thể hiện một giấc mơ, một ước mơ mà tôi đang trên đường thực hiện. Tôi cũng chỉ mong lúc nào đất nước mình tràn ngập gió thì tôi không phải đi buôn nữa, thì đó là một điều hạnh phúc. 

NV: Cảm ơn blogger Người Buôn Gió đã dành thời gian cho chúng tôi.

Quản lý những căng thẳng chiến lược (*)

Thục Minh (Văn phòng Singapore, ghi)
11h45 sáng nay 31.5, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh đã có bài phát biểu tại phiên toàn thể của diễn đàn Đối thoại Shangri-La lần thứ 13 ở Singapore. Thanh Niên Online gửi tới bạn đọc toàn văn bài phát biểu này.

Thưa Ngài Chủ tịch, Tiến sỹ John Chipman!

Thưa toàn thể các quí vị!


Thay mặt Đoàn đại biểu quân sự cấp cao BQP Việt Nam, tôi chân thành cám ơn Chính phủ và BQP Singapore cùng Ban Tổ chức Đối thoại Shangri-La lần thứ 13 đã dành cho tôi cơ hội tham dự và phát biểu tại phiên họp toàn thể này!

Thưa các quí vị!

Trước hết, chúng tôi bày tỏ sự đánh giá cao thông điệp về "chính sách hòa bình tích cực" của Nhật Bản được Thủ tướng Shinzo Abe trình bày tối hôm qua.

Cũng tại Diễn đàn này năm 2013, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam, Nguyễn Tấn Dũng đã chuyển tới cộng đồng quốc tế một thông điệp về “lòng tin chiến lược”, trong đó đã nhấn mạnh rằng “lòng tin là khởi nguồn của mọi quan hệ hữu nghị, hợp tác; là liều thuốc hiệu nghiệm để ngăn ngừa những toan tính có thể gây ra những nguy cơ xung đột. Lòng tin cần được nâng niu vun đắp không ngừng bằng những hành động cụ thể, nhất quán, phù hợp với chuẩn mực chung và với thái độ chân thành”. 

Sau một năm nhìn lại, chúng ta thấy thế giới và khu vực vẫn còn nhiều căng thẳng và tiềm ẩn các nguy cơ xung đột, hoặc chiến tranh như chúng ta đang chứng kiến hàng ngày, hàng giờ qua các phương tiện truyền thông đại chúng. Chính vì vậy, xây dựng lòng tin vẫn đang là vấn đề cấp thiết hơn bao giờ hết đối với tình hình thế giới và khu vực hiện nay.

Quản lý căng thẳng chiến lược là vấn đề hệ trọng, liên quan đến hòa bình, ổn định và phát triển của các nước, khu vực và thế giới, phù hợp với nguyện vọng chung của cộng đồng quốc tế và lợi ích của các quốc gia, là chủ đề tôi chia sẻ cùng các bạn.
Thưa các quý vị!

Nhìn chung, tình tình thế giới và khu vực hiện nay, hoà bình, hợp tác và phát triển là xu thế lớn, .nhưng vẫn còn diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều bất trắc khó lường. Những căng thẳng, xung đột tôn giáo, sắc tộc, ly khai, chiến tranh cục bộ, tranh chấp lãnh thổ, bạo loạn chính trị, can thiệp, lật đổ, khủng bố diễn ra gay gắt; các yếu tố đe dọa an ninh phi truyền thống, tội phạm công nghệ cao trong các lĩnh vực tài chính - tiền tệ, điện tử - viễn thông, sinh học, môi trường... còn tiếp tục gia tăng.
Khu vực châu Á - Thái Bình Dương có sự phát triển năng động, tăng trưởng cao và là tâm điểm thu hút các nhà đầu tư thế giới, tuy nhiên, vẫn tồn tại những căng thẳng trên Bán Đảo Triều Tiên, tranh chấp chủ quyền trên Biển Hoa Đông và Biển Đông... Đây là các nhân tố ảnh hưởng đến hòa bình và ổn định khu vực.

Nguyên nhân của các vấn đề trên, xuất phát từ mâu thuẫn và xung đột lợi ích, dẫn đến sự hoài nghi về thiện chí và lòng tin trong quan hệ, hợp tác, sự cọ sát về lợi ích trong cạnh tranh chiến lược và hành động kiềm chế lẫn nhau. Bên cạnh đó, những mâu thuẫn, khác biệt về văn hóa, tôn giáo, sắc tộc, ý thức hệ... vẫn tồn tại, trong khi các bên liên quan vẫn chưa có được các giải pháp xử lý hữu hiệu.
Nguyện vọng chung của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, là luôn mong muốn khu vực duy trì được môi trường hòa bình, ổn định, cùng hợp tác phát triển và ngăn chặn không để xảy ra xung đột, chiến tranh.

Tôi cho rằng, để quản lý các nguy cơ có thể dẫn đến xung đột, trước hết chúng ta cần có một nhận thức chung trong việc đề cao trách nhiệm quốc tế, mà đặc biệt là vai trò, trách nhiệm của các cường quốc. Các nước cùng phải có trách nhiệm giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định hợp tác cùng phát triển, phải tôn trọng luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên Hợp Quốc, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không dùng vũ lực, hoặc đe dọa dùng vũ lực để giải quyết các vấn đề tranh chấp, tăng cường các mặt hợp tác trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau cùng có lợi, không phân biệt quốc gia lớn hay quốc gia nhỏ. 

Khi có được nhận thức chung, chúng ta sẽ có nền tảng vững chắc để xây dựng lòng tin. Lòng tin không chỉ được thể hiện bằng lời nói, mà phải bằng hành động cụ thể, bằng những việc làm thiết thực để thúc đẩy sự minh bạch, đối thoại bình đẳng, cởi mở, xây dựng quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa các quốc gia, tôn trọng luật pháp và các chuẩn mực trong quan hệ quốc tế. Các nước lớn có vai trò trách nhiệm và đóng góp quan trọng trong việc tạo dựng và củng cố lòng tin chiến lược này.  

Trên thực tế, ngay ở trong quốc gia, hay mỗi gia đình cũng còn có những mâu thuẫn, bất đồng, huống chi là các nước láng giềng với nhau còn tồn tại tranh chấp về biên giới, lãnh thổ, hoặc va chạm là điều khó tránh khỏi. Vấn đề là ở chỗ, lãnh đạo cấp cao của các nước nên cần hết sức bình tĩnh, kiềm chế, đặt lợi ích của quốc gia trong lợi ích của khu vực và quốc tế; lựa chọn giải pháp hòa bình thông qua đàm phán ngoại giao để giữ gìn quan hệ hữu nghị giữa các nước.

 Trong giải quyết bất cứ một mâu thuẫn hay tranh chấp nào, các bên liên quan cần phải tự kiềm chế, bình tĩnh, nhận rõ bản chất vấn đề thật khách quan và rất thận trọng đưa ra các quyết định. Chỉ cần một sai lầm nhỏ cũng có thể làm cho căng thẳng trở thành xung đột. Xử lý căng thẳng trong quan hệ giữa các nước, vai trò của quân đội hết sức quan trọng, quân đội phải kiềm chế, kiểm soát và quản lý chặt chẽ mọi hoạt động của từng người chỉ huy, người chiến sĩ trong chỉ huy, điều khiển vũ khí, trang bị, phương tiện chiến đấu, từ tàu chiến, máy bay....

Trong quản lý căng lý căng thẳng chiến lược, thì vấn đề truyền thông có vai trò và trách nhiệm rất quan trọng, đó là đưa tin phải trung thực khách quan, kịp thời với tinh thần xây dựng vì lợi ích quốc gia dân tộc. Truyền thông nên tạo ra môi trường thuận lợi để góp phần giải quyết mâu thuẫn và tranh chấp một cách hòa bình, không nên dùng những lời lẽ kích động, càng không nên kích động hận thù dân tộc, càng không nên làm cho tình hình căng thẳng thêm, hoặc gây áp lực cho lãnh đạo trong quá trình xem xét ra quyết định giải quyết vấn đề.

Để kiểm soát và giảm thiểu các nguy cơ xung đột, chúng ta nên phát huy có hiệu quả các cơ chế hợp tác cả song phương và đa phương. Những vấn đề có liên quan đến hai nước thì cần giải quyết song phương, còn vấn đề liên quan đến nhiều nước, nhiều bên thì giải quyết theo cơ chế đa phương. Trong quá trình giải quyết các vấn đề mâu thuẫn, bất đồng cần phải được công khai, minh bạch trước cộng đồng quốc tế, tránh sự hiểu lầm, hoặc gây hoài nghi cho dư luận. 

Hiện nay, chúng ta đang có những cơ chế hợp tác khu vực như Diễn đàn An ninh khu vực ASEAN (ARF), Hội đồng Hợp tác An ninh Châu Á-TBD (CSCAP) Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á (EAS); Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN (ADMM) và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN Mở rộng (ADMM+), Diễn đàn Biển ASEAN (AMF), cũng như Đối thoại Shangri-La hôm nay, là những khuôn khổ hợp tác quan trọng về xây dựng lòng tin, thúc đẩy ngoại giao phòng ngừa và tìm kiếm các biện pháp quản lý xung đột. 


Sau khi phát biểu, Bộ trưởng Phùng Quang Thanh đã nhận được nhiều câu hỏi từ các đại biểu về vai trò các nước lớn đối với ASEAN, các biện pháp giải quyết tình hình căng thẳng hiện nay trên biển Đông, cũng như khả năng Việt Nam "không còn lựa chọn nào khác" là phải đưa láng giềng Trung Quốc ra toàn án trọng tài quốc tế - Ảnh: Thục Minh
Thưa các quí vị!  

 Quan hệ giữa Việt Nam và nước bạn láng giềng Trung Quốc về tổng thể trên các mặt đang phát triển tốt đẹp, chỉ còn tồn tại vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông và đôi khi cũng có những va chạm gây căng thẳng như sự việc ngày 01/05/2014, Trung Quốc đã đơn phương hạ đặt giàn khoan nước sâu Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, đã gây bức xúc cho Nhân dân Việt Nam, gây lo ngại cho các quốc gia trong khu vực và cộng đồng quốc tế. 

Chúng tôi nhận thức rõ, đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh thổ là thiêng liêng. Việt Nam nhất quán chủ trương kiên trì giải quyết bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở Luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982; Tuyên bố về Ứng xử của Các bên ở Biển Đông (DOC); Tuyên bố 6 điểm của ASEAN về Biển Đông; tiến tới xây dựng Bộ Quy tắc Ứng xử trên Biển Đông (COC) giữa ASEAN và Trung Quốc; và Thỏa thuận của lãnh đạo cấp cao hai nước Việt -Trung, giữ hòa bình, ổn định an ninh, an toàn hàng hải, hàng không ở Biển Đông, giữ ổn định chính trị để tập trung phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân và giữ gìn quan hệ hữu nghị truyền thống giữa nhân dân hai nước Việt-Trung, thông qua con đường đối thoại ở nhiều cấp, nhiều ngành với Trung Quốc để làm giảm căng thẳng.

Với chủ trương trên, Việt Nam rất kiềm chế, không sử dụng máy bay, tàu tên lửa, tàu pháo... mà chỉ dùng tàu kiểm ngư, tàu cảnh sát biển và tàu cá của ngư dân, phối hợp với lực lượng chấp pháp để bảo vệ chủ quyền, không chủ động đâm va, không phun vòi rồng vào các tàu của Trung Quốc. Chúng tôi đề nghị Trung Quốc rút giàn khoan ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam và cùng Việt Nam đàm phán để giữ được hòa bình ổn định và quan hệ hữu nghị hai nước. Điều đó có lợi cho hai nước, cho cả khu vực và thế giới. 

Tôi cho rằng, quân đội hai nước phải hết sức kiềm chế, tăng cường hợp tác với nhau, kiểm soát chặt chẽ mọi hoạt động không để có những hành động ngoài tầm kiểm soát. Quân đội hai nước phải thể hiện vai trò tham mưu với lãnh đạo Đảng, Nhà nước xử lý thỏa đáng vấn đề một cách bình tĩnh, kiên trì, để không xảy ra xung đột, không xảy ra chiến tranh. 

Việt Nam rất chủ động, tích cực trong hợp tác quốc phòng với các nước ASEAN như tham gia diễn tập tìm kiếm cứu nạn, hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa, thiết lập đường dây nóng chia sẻ thông tin giữa các nước ASEAN. Ngày 8/6/2014 tới đây, Việt Nam và Phi-líp-pin sẽ tổ chức giao lưu giữa các lực lượng đóng quân trên các đảo Song Tử Đông và Song Tử Tây, thuộc quần đảo Trường Sa, để tăng cường hữu nghị và xây dựng lòng tin cũng như giảm căng thẳng ở khu vực.

Chúng tôi hy vọng vào nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế, các mâu thuẫn, bất đồng sẽ từng bước được giải quyết, duy trì được sự ổn định và phát triển ở khu vực, đóng góp chung cho môi trường hòa bình của thế giới. 

Cuối cùng, để kết thúc phần trình bày của mình, một lần nữa, tôi muốn chuyển đến quí vị một thông điệp từ Chính phủ và Nhân dân Việt Nam rằng, với truyền thống hòa hiếu và yêu chuộng hòa bình, Việt Nam luôn sẵn sàng là bạn là đối tác tin cậy với tất cả các quốc gia trong cộng đồng quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi, cùng nhau xây dựng một thế giới hòa bình, thịnh vượng, hợp tác và phát triển. 

Cảm ơn sự chú ý lắng nghe của quí vị!

(*) Phát biểu dẫn đề của Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh tại Đối thoại Shangri-La lần thứ 13, Singapore, 31.5.201

Lịch sử buộc người Việt phải quyết đoán hơn

Kỳ Duyên
Lịch sử giành và giữ độc lập dân tộc luôn buộc người VN phải trở nên thông minh hơn, buộc phải can đảm và quyết đoán hơn. 

I-Những ngày này, cả nước Việt bị tổn thương nặng trước việc Trung Quốc ngang nhiên đưa giàn khoan Hải Dương- 981 vào hoạt động trong vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế VN, cũng tức là ngang nhiên xâm lấn chủ quyền biển đảo nước Việt. 


Hàng nghìn, hàng vạn bài báo trên các mạng truyền thông phản đối hành vi “bá quyền nước lớn” của TQ, ngang nhiên giẫm đạp Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) mà năm 1996, TQ đã tham gia ký kết. 

Điểm đỉnh của việc khẳng định chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển đảo thiêng liêng, bày tỏ thái độ công khai minh bạch trước lời nói và việc làm tiền hậu bất nhất của TQ, là hàng loạt những phát biểu của những cán bộ lãnh đạo có trách nhiệm cao nhất với vận mệnh đất nước. 

Cũng là thông điệp trước sau như nhất của nước Việt: Cả nước đoàn kết một lòng, tỉnh táo, sáng suốt, kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ quyền độc lập toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc đồng thời cố gắng giữ vững môi trường hòa bình, hợp tác để xây dựng và phát triển đất nước….Dân tộc chịu đau thương, mất mát vì chiến tranh nên cố gắng tránh chiến tranh (VietNamNet, ngày 29/5)

Nhưng mặt khác, dân tộc VN cũng quá thấu hiểu “thân phận” mất nước, quá thấu hiểu “thân phận” nô lệ, nên Việt Nam luôn mong muốn có hòa bình, hữu nghị nhưng phải trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển. Nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó.
 
Phát ngôn thật ấn tượng của người đứng đầu Chính phủ VN tại Mianmar và đặc biệt là tại cuộc họp báo quốc tế, khi ông đi thăm Philippines, đã lay động tâm thức cả nước. Lịch sử giành và giữ độc lập dân tộc luôn buộc người VN phải trở nên thông minh hơn, buộc phải can đảm và quyết đoán hơn trong sự chọn lựa cách đứng lên trước vận mệnh sinh tử của chính mình.

Cách đứng lên đó là gì? 

Để không chấp nhận thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó, không còn cách nào khác, nước Việt phải tạo cho mình nội lực mạnh một cách thực chất.

Đó cũng là tư tưởng, là băn khoăn, và day dứt của người Việt nói chung, của các đại biểu QH nói riêng tại kỳ họp thứ 07, QH khóa XIII đang diễn ra. Trước những hay dở, mạnh yếu của nền kinh tế- vốn đang cần được “lột xác”, để có thể đi trên đôi chân của chính mình, tăng sức mạnh hội nhập và thoát khỏi sự phụ thuộc nhiều mặt vào… dã tâm láng giềng.

Trong thế giới hiện đại, sự giao lưu thông thương về kinh tế khiến cho ngay cả quốc gia hùng mạnh nhất cũng không thể “một mình một chợ”. 

Đáng chú ý là ý kiến của Đại biểu QH- TS Vũ Viết Ngoạn, Chủ tịch UB giám sát tài chính quốc gia, khi ông nhận xét kinh tế VN có 03 hạn chế lớn. Đó là về cơ cấu sản xuất nông nghiệp, về động lực tăng trưởng chủ yếu vẫn từ khu vực vốn đầu tư nước ngoài (FDI), khiến tính tự chủ của nền kinh tế bị hạn chế, và sự khó khăn của các doanh nghiệp trong nước.

Đặt cả 03 hạn chế này trong bối cảnh kinh tế thế giới đang được dự báo có những bất ổn, bất trắc không lường hết được, sẽ thấy hành trình của kinh tế nước Việt sắp tới rất cam go, vì tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu.

Để đôi chân kinh tế có thể đứng thẳng, có sức trường hơi, theo ông Vũ Viết Ngoạn, việc đầu tiên, phải tăng 50% năng suất lao động và GDP phải tăng 6,5% mới đảm bảo công ăn việc làm cho lực lượng đến tuổi lao động. Đặc biệt, phải đẩy nhanh tái cơ cấu, cải cách thể chế kinh tế.

Điều này khá phù hợp với những số liệu phân tích đáng giật mình của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đưa ra mới đây, năng suất lao động VN thuộc nhóm thấp nhất ở Châu Á- Thái Bình Dương, chỉ bằng 1/15 Singapore, 1/11 Nhật Bản, và 1/10 Hàn Quốc. Thậm chí so với các nước láng giềng ASEAN có mức thu nhập trung bình, năng suất lao động của VN vẫn có khoảng cách lớn, chỉ bằng 1/5 Malaysia và 2/5 Thái Lan (Đất Việt, ngày 13/05).
Nhân cách, quốc gia, Ấn tượng trong tuần, Kỳ Duyên, nước Việt, Trung Quốc, văn hóa, quản lý
Tàu Trung Quốc và tàu Việt Nam giẳng co trên vùng biển có giàn khoan đặt trái phép. Ảnh: Hoàng Sang

Ở góc nhìn khác, ông Cao Sĩ Kiêm (ĐB đoàn Thái Bình) lại cho rằng, để phát huy nội lực, nền kinh tế VN cần phát huy hai mũi nhọn nông nghiệp nông thôn và doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Theo ông, đây phải coi là chiến lược lâu dài khi VN vẫn là nước nông nghiệp, nông dân chiếm phần lớn trong cơ cấu dân số. Ưu tiên giải quyết đầu ra cho nông sản và tinh chế từ hàng nông thô ra nông sản tinh, có hàm lượng chất xám cao. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp tư nhân, cần tạo điều kiện cho họ tiếp cận vốn dài hạn, hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao dây chuyền, nâng cao quy trình chế biến để doanh nghiệp tự tạo thị trường. Và cuối cùng giúp doanh nghiệp chuyển giao công nghệ mới (GDVN, ngày 27/05).

Thật ra, các giải pháp trên không mới. Nhưng những kiến giải của ông Cao Sỹ Kiêm cho thấy, ở góc độ khác, nó phản chiếu cách đi lệch của nền kinh tế, do đuổi theo mục tiêu “công nghiệp hóa” quá mạnh. Thực chất, nông nghiệp của VN đã bị… bỏ quên nhiều năm, và giờ đây, việc phát huy mũi nhọn nông nghiệp chỉ là một cách điều chính lại sự “thái quá” của nền kinh tế một đất nước bản chất vẫn có thế mạnh là nông nghiệp. Quan trọng hơn nữa, làm sao những sản phẩm nông sản phải giảm bớt cái tính chất “thô mộc, xù xì” của nó, để tạo nên giá trị lớn hơn.

Trong họa có phúc. Cái phúc ấy muốn lâu bền, và nước Việt muốn đứng lên vững chãi bằng đôi chân của chính mình, không thể thiếu giải pháp căn cốt. Đó là nền kinh tế phải sớm thay đổi mô hình phát triển, phải tái cơ cấu kinh tế, cải cách thể chế kinh tế một cách tích cực, quyết liệt, triệt để. Thậm chí, trước đó, tháng 04, tại Diễn đàn kinh tế Mùa xuân 2014, TS Trần Đình Thiên cho rằng, chúng ta đã bắt đầu thoát khỏi “chủ nghĩa thành tích”. Song, để tái cơ cấu thành công, cần phải cưỡng bức cải cách có điều kiện (VietNamnet, ngày 28/04)

Tái cơ cấu kinh tế thành công, sẽ như một mũi tên trúng ba đích: Thứ nhất, tạo môi trường cạnh tranh sản xuất, kinh doanh lành mạnh, sòng phẳng giữa các doanh nghiệp các thành phần kinh tế, kích thích sức sản xuất, tăng năng suất lao động, góp phần tăng hiệu quả GDP. Thứ hai, giảm thiểu mức thấp nhất cơ chế xin- cho, mảnh đất mỡ màu cho các loại sâu tham nhũng, các nhóm lợi ích đục khoét “ích nhóm, hại nước”. Thứ ba, tạo niềm tin cho người Việt ủng hộ sản phẩm hàng hóa nội, một biểu hiện tích cực của lòng yêu nước. Mối quan hệ tương hỗ giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng thông thái tạo nên hiệu quả “ích nhà, ích nước”.

Nhưng nước Việt không thể đứng lên bằng đôi chân mạnh mẽ, nếu người Việt không cố kết, đoàn kết, thông qua chính công cuộc tái cơ cấu kinh tế. Việc tái cơ cấu kinh tế, cổ phần hóa, sáp nhập các doanh nghiệp “từ xa lạ nay thành gần gũi” cũng sẽ đòi hỏi mọi thang bậc giá trị về đức, tài phải thực chất và đặt đúng chỗ. Quan trọng nhất, đòi hỏi các doanh nghiệp phải hợp tác được với nhau. 

Có một câu ca dao giản dị, sâu sắc của nhân gian đã biến thành “nhân cách” dân tộc Việt, đang cần được linh nghiệm trong những tháng năm giông bão này: Một cây làm chẳng nên non/ Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.
Nhân cách, quốc gia, Ấn tượng trong tuần, Kỳ Duyên, nước Việt, Trung Quốc, văn hóa, quản lý
Trung tâm Hội nghị quốc gia Mỹ Đình giờ chủ yếu để tổ chức đám cưới.
                                    ***********
II- Nước Việt, muốn đứng thẳng dậy trên đôi chân của chính mình, cũng phải tự thay đổi rất nhiều. Trước hết, là thay đổi cung cách quản lý còn lỏng lẻo, lãng phí tài lực của xã hội và nhân dân trong hoàn cảnh kinh tế đất nước còn nhiều bất ổn.

Mà vụ việc dự thảo Quy hoạch tổng thể phát triển nghệ thuật biểu diễn đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 vừa được Bộ VHTT&DL đề cập, tuy bị “chìm” đi dưới… những con sóng Biển Đông, bởi vụ giàn khoan TQ, nhưng nó vẫn gây nhức nhối cho những ai quan tâm đến văn hóa nước nhà. Chỉ ngay sau khi Đề án tổ chức Asiad 18 với cái giá 150 triệu USD vừa bị rút.

Theo dự thảo, tới năm 2030, 71 nhà hát trên cả nước sẽ được đầu tư xây mới và trùng tu, đại tu. Trong đó, sẽ xây mới 11 nhà hát có quy mô lớn 2.000 - 2.500 ghế, có trang thiết bị hiện đại, chất lượng đạt tiêu chuẩn quốc tế về âm thanh, ánh sáng và cơ khí sân khấu.

Tại Hà Nội, TP.HCM sẽ xây mới công trình nhà hát quy mô lớn 2.500 - 3.000 ghế. Xây mới 40 nhà hát có quy mô lớn từ 1.000 - 2.000 ghế tại các tỉnh chưa có nhà hát trung tâm. Tổng số vốn đầu tư giai đoạn 2012-2020 dự kiến là 10.800 tỷ đồng.

Rõ là ra ngõ gặp... nhà hát nhé!

Đọc hàng loạt những con số dành cho các nhà hát này, có thể hình dung, nước Việt cũng là xứ sở của “đờn ca” và cách tiêu tiền của Bộ VHTT & DL hóa ra cũng … tài tử chẳng kém gì ai.

Bởi lẽ, người ta có thể liệt kê, ngay công suất sử dụng của không ít trung tâm, công trình văn hóa tại Thủ đô như Trung tâm Hội nghị quốc gia Mỹ Đình, Trung tâm triển lãm Giảng Võ, rạp Công Nhân, rạp Đại Nam cũng còn chưa hết, thì việc xây dựng hàng loạt nhà hát với hàng chục nghìn tỷ đồng nữa để làm gì? Chắc chỉ Bộ VHTT & DL mới có thể trả lời nổi.

Chưa kể trước đó, đề án Chiến lược và Quy hoạch phát triển điện ảnh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 của Bộ VHTT& DL, trong đó có việc xây dựng thêm 03 phim trường cổ trang tại HN, t/p HCM và Đà Nẵng, trong khi phim trường Cổ Loa được đầu tư hơn 100 tỷ đồng nhưng hiện giờ... để không.

Vì sao những dự thảo, đề án của Bộ VHTT & DL luôn bị xã hội phản ứng? Hay bởi chỉ có Bộ VHTT & DL mới có tầm nhìn văn hóa. Còn xã hội lại chỉ có tầm nhìn về cái sự …lãng phí, rút ruột? Và nói như GS Ngô Đức Thịnh, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu Văn hóa VN, trả lời phỏng vấn báo Đất Việt, ngày27/5, ông cho rằng các nhà lãnh đạo (VHTT & DL- KD) rất thích đề án.

Thậm chí, theo GS Ngô Đức Thịnh, Bộ VH không có dự đoán, cũng không thăm dò, khảo sát gì, thích thì xây, xây để kiếm chác. Nhà hát bỏ không thì nhiều, chuyên dành cho tổ chức đám cưới, còn tranh chỗ với tổ chức hội thảo quốc tế. Thậm chí, các hội thảo còn phải nhường chỗ. Một hội thảo lớn còn phải dẹp xuống nhà xập xệ, rồi nhường chỗ cho đám cưới. Quá kỳ cục!

Chẳng có gì là kỳ cục, vì GS đã biết người ta đề xuất đủ các loại đề án, dự án là để có tiền. Và xây nhà hát xong chỉ để cho thuê làm nơi tổ chức đám cưới, cũng chỉ là để có tiền!

Không ai phủ nhận sự cần thiết phải có nhà hát, các công trình văn hóa, nâng cao trình độ hưởng thụ và nhận thức về văn hóa cho người dân trong xã hội. Nhưng cũng không ai chấp nhận, nếu cái cách làm đề án, dự thảo về văn hóa, nhà văn hóa, công trình văn hóa lại thiếu hẳn một tầm nhìn… văn hóa cần thiết của cấp quản lý văn hóa.

Đó là cần biết “ăn trông nồi, ngồi trông hướng” của ngành này. Trong khi, GS Ngô Đức Thịnh lại cứ nói … tuồn tuột cái cách ăn lẫn cả cái cách ngồi văn hóa: Đưa ra đề án chẳng qua là muốn lấy % theo cái kiểu hình thức. Trong khi đó, đầu tư công dẫn đến nợ công, cuối cùng ai chịu, dân chịu chứ ai?

Chẳng biết, cái dự thảo xây mới, trùng tu, đại tu tới 71 nhà hát trên cả nước có được chính thức biến thành hiện thực không? Vào giữa lúc lòng người dân Việt cuộn sóng trước sự nghênh ngang và tham lam của láng giềng TQ, cần sự đồng tâm, cố kết, đoàn kết, cần sự đồng cam cộng khổ của cả dân tộc.
Để làm một quốc gia lớn được cả nhân loại thừa nhận, cũng cần có “nhân cách” một quốc gia. Để làm một ngành quản lý văn hóa được cả xã hội thừa nhận, rất cần một tầm tư duy và tấm lòng có… văn hóa.

Vậy thôi!

Thứ Sáu, 30 tháng 5, 2014

Việt Nam gửi Công hàm phản đối Trung Quốc lên Liên Hợp Quốc

Ngày 28/5, Phái đoàn đại diện Thường trực nước ta tại Liên Hợp Quốc đã gửi thư cho Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc Ban Ki-moon đề nghị lưu hành Công hàm của Bộ Ngoại giao nước ta gửi Bộ Ngoại giao Trung Quốc, phản đối Trung Quốc không chịu chấm dứt các hoạt động vi phạm chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam theo quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982, mà cả Việt Nam và Trung Quốc đều là thành viên. 
 
Việt Nam kiên quyết bác bỏ lập luận của phía Trung Quốc cho rằng vị trí hạ đặt giàn khoan Hải Dương-981 (Haiyang Shiyou 981) là thuộc vùng biển của cái gọi là “quần đảo Tây Sa”, và một lần nữa khẳng định rằng “quần đảo Tây Sa” mà Trung Quốc đề cập đến chính là quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam mà Trung Quốc đã chiếm đóng trái phép bằng vũ lực năm 1974.
Giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc hạ đặt trái phép tại vùng biển Việt Nam

Việt Nam yêu cầu Trung Quốc rút ngay giàn khoan Hải Dương-981 cùng các tàu hộ tống ra khỏi vùng biển của Việt Nam, chấm dứt các hoạt động gây ảnh hưởng đến an toàn, an ninh hàng hải cũng như hòa bình và ổn định ở khu vực.

Văn kiện trên đồng thời phản đối đến quan điểm của Trung Quốc, cho rằng Việt Nam đã phân 57 lô dầu khí, trong đó có 7 mỏ cùng 37 giàn khoan đang hoạt động tại vùng biển tranh chấp. 

Việt Nam khẳng định quan điểm này của Trung Quốc được đưa ra mà không căn cứ vào một cơ sở pháp lý nào, do vậy, Việt Nam kiên quyết bác bỏ quan điểm sai trái này, đồng thời khẳng định rằng mọi hoạt động dầu khí của Việt Nam đều tiến hành trên thềm lục địa của Việt Nam, được xác định phù hợp với quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982.

Công hàm của Việt Nam khẳng định sau khi Trung Quốc rút giàn khoan, hai bên sẽ trao đổi ngay các biện pháp kiểm soát ổn định tình hình và các vấn đề trên biển giữa hai nước.

Phái đoàn đại diện thường trực nước ta tại Liên Hợp Quốc đề nghị Tổng thư ký Liên Hợp Quốc cho lưu hành văn bản trên như một tài liệu chính thức của Khóa 68 Đại hội đồng Liên Hợp Quốc.

Tiếp đó, ngày 29/5, Phái đoàn Đại diện Thường trực nước ta tại Liên Hợp Quốc đã ra Thông cáo báo chí về vụ việc trên.

Trước đó, hôm 9/5, Liên Hợp Quốc cũng đã cho lưu hành một Công hàm của Bộ Ngoại giao nước ta phản đối việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981 vào sâu trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng chủ quyền biển đảo của nước ta./.