Thứ Ba, 4 tháng 2, 2014

Mẹ con chị Đào



Nguyễn Quang Lập 
Năm 1981 mình đóng quân ở đảo Cái Bầu (Quảng Ninh). Đảo Cái Bầu to đùng gọi là huyện đảo, chẳng thấy  đâu “sóng biển dập dìu”chỉ thấy rừng là rừng. Cuốc bộ 25 cây số mới tới nơi đóng quân, đấy là sáu quả đồi nằm giữa âm u rừng già, buồn ơi là buồn. Sống đấy chỉ giải khuây bằng việc mang gạo vào nhà dân đổi chó đem về mổ thịt nhậu chơi. Mình với thằng Quí kết với nhau đi đổi chó mười mấy bản quanh khu vực đóng quân. 


Thằng Quí  ở đại đội bệ, to cao phốp pháp như Tây, nó là giống tây lai dù bố mẹ nó đều người Việt. Nó kể ông nội nó là lính lê dương, hiếp bà nội nó đẻ ra bố nó.  Bố nó rất thuần Việt, chẳng lai tây chút nào nhưng đến thế hệ F2 là nó lại lai tây. Hồi nầy Tây có nghĩa là Liên Xô, các đơn vị tên lửa thường có chuyên gia Liên Xô về làm việc nên bất cứ ai nhìn thấy nó đều đinh ninh là chuyên gia Liên Xô.

  Cứ chiều thứ bảy nó đeo giày Kur Sơ Gin ( hay là giày gì đó  không nhớ, cũng chẳng nhớ nó kiếm đâu ra giày sĩ quan Liên Xô rất xịn đó), khoác cái áo bay Liên Xô cùng mình vác một, hai yến gao đi về mấy bản gần đấy. Nói là gần chứ cũng phải đi chừng năm bảy cây số mới tới nơi. Tất nhiên mình vác gạo, nó đi không. Chuyên gia Liên Xô ai lại đi vác gạo, hi hi.

Nhác thấy nhà nào có con chó nào thịt được, hai thằng rẽ vào. Nó cười rất tươi, cúi chào rất lễ độ, nói rốp rít xốp xít. Tiếng Nga nửa tiếng nó chẳng biết, cứ rốp rít xốp xít loạn cả lên. Mình cũng “dịch” loạn cả lên, miệng mồm  như tép nhảy, nói đồng chí chuyên gia Liên Xô kính chào bố mẹ, chúc bố mẹ sức khỏe. Nó đế thêm cái tiếng Việt  ngọng của Tây, nói án khang thính vướng. Bố mẹ thích lắm, đón tiếp rất niềm nở, có gì ăn được trong nhà đem ra mời hết.

Thằng Quí nhìn con chó rất âu yếm nói một tràng rốp rít xốp xít. Mình dịch ngon trớt, nói đồng chí chuyên gia rất thích con chó này. Nó đế thêm, nói cón chò đép làm.  Mình nói người nước ngoài coi chó như bạn, sang đây không có bạn, đồng chí chuyên gia buồn lắm. Nó đế thêm, nói buốn làm buốn làm. Mình nói đồng chí  chuyên gia rất muốn mua con chó này nhưng đồng chí chuyên gia chỉ có tiền Liên Xô không có tiền Việt, không biết bố mẹ có đồng ý đổi gạo không. Bố mẹ nghe nói vậy thì ok liền, nói đồng ý đồng ý, ưu tiên đồng chí chuyên gia Liên Xô. Nó liền bắt tay bố mẹ, nói càm ớn bò mè càm ớn bò mè.

Xong việc, “đồng chí chuyên gia” tay không túc tắc đi về, “đồng chí phiên dịch” phải vác bao tải chó lúc cúc chạy theo sau, mệt bỏ mẹ nhưng chẳng dám kêu một tiếng. Hi hi. Nói chung khi “đồng chí chuyên gia” đã ngỏ lời đổi gạo lấy chó, nhà nào cũng vui vẻ ok. Có nhà tặng luôn con chó cho đồng chí chuyên gia không lấy một cân gạo. Duy nhất có một nhà bóc mẻ được thằng Quí là ông Liên Xô dởm, ấy là nhà chị Đào.

Năm đó chị Đào hai sáu tuổi, hơn tụi mình hai tuổi, xinh nhất bản ( bản gì cũng quên mất rồi). Tụi mình vào nói chuyện với bố mẹ, chị đứng nép vách buồng nghe lén, thỉnh thoảng nhóng cổ ra cười khúc khích, lúm đồng tiền sâu hoắm, tròn vo. “Đồng chí chuyên gia” thấy người đẹp thì ngẩn ngơ, mặt đực như ngỗng ia, mình phái hích cùi chõ mấy lần nhắc nhở. Đến đoạn mình nói “đồng chí chuyên gia rất muốn mua con chó này nhưng đồng chí chuyên gia chỉ có tiền Liên Xô không có tiền Việt, không biết bố mẹ có đồng ý đổi gạo không” thì chị cười ré lên, nói tiền Liên Xô cũng được, đem tiền Liên Xô đây. Thằng Quí mặt tái như đít nhái. Mình giả bộ rốp rít xốp xít với thằng Quí rồi quay lại “dịch” cho chị , nói vì không nghĩ bố mẹ cần tiền Liên Xô nên đồng chí chuyên gia không mang tiền theo. Thằng Quí mừng quá, nói đùng rói đùng rói. Chị Đào cười ngất, nói thôi đi chú Quí chú Lập ơi. Chị biết các chú là ai rồi.

Té ra chị Đào là vợ anh Chiến lái xe cùng sư đoàn. Hôm liên hoan văn nghệ sư đoàn, tụi mình lên sân khấu hát hò chị có đến xem. Thằng Quí còn diễn kịch, thủ vai phi công Mỹ, làm sao chị không nhớ. May quá. Bố mẹ chị biết hai thằng cùng đơn vị anh Chiến nên cười xòa, cho luôn con chó, còn mời hai thằng ở lại ăn cơm. Bây giờ mới biết chị Đào là con dâu, quê chị ở Thái bình theo anh Chiến về đây đã sáu năm. Thằng Quí tiếc ngẩn ngơ, giá chị chưa chồng thế nào nó cũng sẵn sàng “ chết” với chị. Nó là giống tây lai muốn “chết” với cô nào mà chẳng được, hi hi.

Đang bữa cơm chợt nghe mấy tiếng è è ó ó. Chưa kịp định thần là tiếng gì thì chị Đào chạy vào buồng bế ra chú bé 4 tuổi. Hai thằng nhìn chú bé hết muốn ăn, sợ chết được. Chú bé bị liệt, hai chân mềm nhũn như là không có xương. Mặt như người bị down mắt ếch miệng cá ngão. Cái cổ nhỏ như cổ tay trong khi cái đầu to đùng, trán dô tai tóp. Chị Đào nhìn tụi mình tươi tỉnh, nói các chú cứ ăn đi, đừng sợ. Bố cháu bị nhiếm chất độc da cam hồi ở rừng Trường Sơn, sinh cháu ra đã thế này rồi. Bác sĩ khuyên nên bỏ đi nhưng chị không chịu, dù sao cũng là con mình, nó ra giống gì vẫn là con mình, có phải không các chú?

 Chị lấy chào đút cho thằng bé, cứ đút thìa nào là nó phun ngược ra thìa đó, mặt chị dính đầy cháo. Thằng Quí há hốc mồm, nói sao thế, cháu nó ăn kiểu gì thế? Chị cười, nói cháu ăn cơm không được, nó không biết nhai, có khi phải đút cháo cả đời. Nhưng đấy là chuyện nhỏ, cái chính là cháu lẫn lộn giữa nuốt vào và phun ra. Cho cháu ăn một bát cháo có khi mất cả chục bát. Xong bữa  mẹ con như trâu lấm. Cứ tưởng chị kể xong là òa khóc hóa ra không, chị cười rất tươi như  vừa kể một chuyện gì vui lắm. Bố mẹ chồng nghẹn ngào, nước mắt dàn dụa, chị thì cười rất tươi, đôi mắt đen nhánh lóng lánh, đôi lúm đồng tiền tròn vo. Lạ quá.

 Sau bữa cơm nhà chị Đào mình không gặp chị lần nào nữa. Tháng sau mình được quân chủng điều về Đà Nẵng, từ đó đến nay di chuyển chỗ ở ba bốn nơi, chẵn ba mươi năm thỉnh thoảng vẫn tính về thăm lại đảo Cái Bầu nhưng chưa một lần thực hiện.

 Năm ngoái thằng Sơn (Nguyễn Thanh Sơn) rủ bạn bè về Đà Nẵng chơi, gọi là kỉ niệm hai năm ngày cưới nó với Hồng Ánh. Hai năm chỉ vỡ có ba chồng bát với hai cái mobile gọi là thành công rực rỡ, hi hi. Đà Nẵng là chốn cũ, mình đã ở đây 4 năm. Nhậu nhẹt tưng bừng xong mình bỏ đám bạn gọi taxi đi lòng vòng quanh thành phố. 

Mình về phố Ông Ích Khiêm, nơi có quán mì Quảng rất ngon và một quán cà phê nhỏ nhỏ dưới gốc bàng, mình và anh em văn nghệ Đất Quảng vẫn hay ngồi ở đó. Quán mì Quảng không còn, quán cà phê đã cơi nới rất hoành tráng, nhạc nhót ầm ĩ, đèn đóm lập lòe. Biết đó không còn chỗ của mình nữa, mình đành bỏ đi.

Bất chợt mình thấy một người đàn bà bán số bên kia đường. rất lạ: Chị nhỏ thó teo tóp lại gùi một người đàn ông to đùng. Chị Đào! Mình chạy đến chào chị, nói em là Lập đây, Lập phiên dịch cho chuyên gia Liên Xô đây, chị có nhớ em không. Chị nhìn mình hồi lâu rồi a lên một tiếng, chụp lấy tay mình, nói chú Lập, ui chao chú còn nhớ chị. Mình nhìn người đàn ông sau lưng chị, biết ngay là con trai chị, chú bé ba chục năm về trước bây giờ đã hơn ba chục tuổi rồi.

Chị em vào quán ngồi, nghe chị kể mới biết anh Chiến bị ung thư máu chết cách đấy mấy năm, bố mẹ chồng bố mẹ đẻ đều về trời hết cả. Chẳng còn ai nương tựa, chị đành gùi con đi bán vé số. Mình đưa chị ít tiền, chị kiên quyết không lấy, mình đành mua hết  mấy chục vé còn lại trên tay chị. Chị nói cười rổn rảng, nói ôi chao bữa nay may quá là may. Chợt thằng bé kêu è è ó ó. Chị vỗ vỗ thằng bé, nói thằng này nó biết đấy. Hễ chị bán được vé số là nó mừng lắm, kêu è è ó ó là nó đang hát đấy. Gương mặt nhầu nhĩ già nua của chị bỗng sáng trưng.

 Mình nói ngày nào chị cũng gùi thằng bé hơn năm chục cân, chịu sao thấu? Chị cười, nói không chịu cũng phải chịu chứ sao. Mình nói sao chị không kiếm cái xe lăn đẩy nó đi? Chị nói chị kiếm rồi nhưng cháu không ngồi được, cột dây ngang ngực nó khó thở, cột ngang bụng thì nó gập người xuồng, chúc đầu xuống đất. Thôi thì gùi vậy. Mình nói đến khi chị già yếu không gùi được nữa thì sao? Chị cười, nói ối dào, đến đó rồi hẵng hay.

Thằng bé lại è è ó ó. Mắt chị lại sáng lên, nói đấy đấy nó lại hát đấy. Khi nào nó hát là nó vui lắm đấy.  Chị cười rất tươi, tươi đến nối làm mình rùng minh nổi cả da gà.

Thứ Hai, 3 tháng 2, 2014

Chợ tết Quê Choa

Bà con thân mến!
Quê Choa đã tròn bảy tuổi. Còn nhớ tết 2007 Quê Choa được 1 triệu hit bọ Lập khoe ầm ĩ cả lên. Bây giờ đã có 79 triệu hit đến từ 181 trên thế giới. Quả là một niềm vui lớn. Chợ tết Quê Choa năm nay sẽ có nhiều bạn mới, trong khi nhiều bạn cũ đã ra đi. Âu đó cũng là lẽ thường, một khi Quê Choa không thuần văn, thuần bọ nữa. Thật lòng tui rất muốn làm một Quê Choa thuần văn, thuần bọ. Đó mới đúng chất của bọ Lập.  Nhưng cuộc sống lại đòi hỏi một người cầm bút phải  dấn thân, nhà văn không thể mũ ni che tai nếu như anh ta muốn là một cây bút tử tế.
Muốn là cây bút của dân trước hết phải sống cho dân, nghĩ vì dân. Nghĩ vậy nên tui nén chút tình riêng, cố hòa đồng với xã hội.  Lời tâm thành "năm hết tết đến", rất mong bà con thông cảm và chia sẻ.
Năm mới  kính chúc bà con xa gần vạn sự như ý, an khang thịnh vượng, phúc lộc đề huề.
Kính.
NGUYỄN QUANG LẬP

Câu đối Đình Hà Tặng Quê Choa, cảm ơn bác Đình Hà rất nhiều


Còm được rồi, bà con còm thoải mái nhá!

Thứ Bảy, 1 tháng 2, 2014

Thử lý giải những sai sót để đời của Nhà biên soạn từ điển – GS Nguyễn Lân – Kỳ 1

Hoàng Tuấn Công 
NQL: Trong loạt bài: “Từ điển từ và ngữ Việt Nam của GS Nguyễn Lân, mục chữ cái nào cũng có sai sót” và “Dĩ hư truyền hư-Những sai lầm mang tính hệ thống trong “Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt Nam” của GS Nguyễn Lân” (5 Kỳ) của Hoàng Tuấn Công; bài “Hai cuốn từ điển rất có hại cho tiếng Việt” của Lê Mạnh Chiến, bạn đọc đã cùng Quê Choa nhìn nhận, đánh giá những sai lầm “chết người” và “có một không hai” của các sách từ điển do GS Nguyễn Lân biên soạn. Loạt bài “Thử lý giải những sai sót để đời của Nhà biên soạn từ điển-GS Nguyễn Lân” tiếp theo của Hoàng Tuấn Công mục đích để độc giả, chúng tôi, chúng ta rút bài học kinh nghiệm trong sử dụng và biên soạn từ điển; góp thêm tiếng nói “vì sự trong sáng của tiếng Việt” – một tham vọng lúc sinh thời của Nhà biên soạn từ điển – GS, NGND Nguyễn Lân.


Kỳ 1- Phương pháp luận

Phương pháp luận là gì ? “Từ điển từ và ngữ Việt Nam” đồ sộ, dày hơn hai ngàn trang của GS Nguyễn Lân không ghi nhận khái niệm này. Chúng ta không thể biết chính xác GS Nguyễn Lân “đãng trí”, hay đối với Nhà biên soạn từ điển nổi tiếng Việt Nam, thực tế không có cái gọi là phương pháp luận. Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng, nguyên nhân đầu tiên dẫn đến những sai sót để đời của GS Nguyễn Lân trong các cuốn từ điển lại chính là phương pháp luận. GS Nguyễn Lân thiếu phương pháp luận đúng đắn để tiếp cận và giải quyết vấn đề.

Phương pháp luận hiểu đơn giản, ngắn gọn là tổng thể những phương pháp nghiên cứu, vận dụng trong khoa học nói chung. Khi GS Nguyễn Lân biên soạn từ điển nghĩa là đang bước vào địa hạt ngôn ngữ học, từ điển học, thành ngữ, tục ngữ học… Công việc này thành công hay không, phụ thuộc vào phương pháp luận mà GS vận dụng. Và kết quả cuối cùng chính là thước đo cho phương pháp luận của soạn giả.

Nhìn lại phần lớn những sai lầm mang tính hệ thống của GS Nguyễn Lân, có vẻ như phương pháp tiếp cận thành ngữ, tục ngữ của GS Nguyễn Lân là không áp dụng phương pháp nào cả. Nói đúng hơn là Nhà biên soạn từ điển dùng “phương pháp luận phỏng đoán”, gọi theo ngôn ngữ thường ngày là “đoán mò” ! Nhận xét này có vẻ như một sự mạo phạm tới bậc thầy ngôn ngữ học. Tuy nhiên, nếu đánh giá, nhìn nhận cụ thể những sai lầm của GS Nguyễn Lân, bạn đọc sẽ thấy, chúng tôi đã gọi đúng tên bản chất vấn đề. Và “phương pháp đặc biệt” này được GS Nguyễn Lân áp dụng khá triệt để trong cả 3 cuốn từ điển “Từ điển thành ngữ tục ngữ Việt Nam”, “Từ điển từ và ngữ Hán Việt”“Từ điển từ và ngữ Việt Nam”.

 Thành ngữ, tục ngữ có quy luật cấu trúc, nguyên tắc ngữ pháp trong cách đặt câu ngữ nghĩa của dân gian. Bởi vậy, dù ngắn hay dài, dù đầy đủ hay đã bị tỉnh lược, thành ngữ, tục ngữ vẫn giữ được cốt lõi vấn đề, giúp người ta nhận ra những thông điệp dân gian gửi gắm. Mặt khác, thành ngữ, tục ngữ có nhiều kiểu cấu trúc ngữ pháp, dùng nhiều thủ pháp nghệ thuật để biểu đạt nhiều góc cạnh ngữ nghĩa. Bởi vậy, trong tay người nghiên cứu phải có cả “chùm chìa khóa” phương pháp luận. Thông qua việc phân loại, xác định cấu trúc, ngữ nghĩa của từng câu mà dùng chìa nào để mở. Tuy nhiên, với GS Nguyễn Lân, dường như thành ngữ, tục ngữ chỉ là những câu nói nôm na, những tập hợp từ lộn xộn. Bởi thế soạn giả đã tùy tiện thay đổi, gán ghép và cuối cùng là phỏng đoán, suy diễn nội dung, cách hiểu theo ý chủ quan của mình, bất chấp “quy luật muôn đời” dân gian đã tổng kết:

- Câu “Áo cứ tràng, làng cứ xã”. “Tràng” từ cổ nghĩa là cái cổ áo. Câu này được diễn giải: cổ áo là bộ phận quan trọng nhất của chiếc áo, cũng giống như xã (trưởng) là người đứng đầu, cấp cao nhất của làng. Muốn nắm cái áo, cứ cổ áo mà cầm; muốn quản lý được làng, cứ ông xã (trưởng) mà nắm. Do không hiểu “tràng” là cái gì nên GS đổi thành “Áo cứ chàng, làng cứ xã” và cho rằng “chàng” ở đây là chàng trai, người chồng. Ý là: việc giặt giũ, vá may quần áo cứ để cho chồng làm nên gọi “áo cứ chàng”; việc của làng cứ ý vào ông xã (trưởng) nên gọi “làng cứ xã”, rồi giải thích: “Nói tính ỷ lại của người đàn bà, cũng như tính ỷ lại của người dân trong thôn xóm, không thấy được vai trò làm chủ của mình”. Như thế, GS đã bất chấp quy luật cấu trúc ngữ pháp, ngữ nghĩa dân gian trong câu tục ngữ, biến chàng (trai) thành một bộ phận của cái áo. Rốt cuộc, câu tục ngữ đề cao vai trò trách nhiệm của người đứng đầu lại bị GS đoán là tính ỷ lại của người đàn bà và người dân trong thôn xóm. (Xin xem bài “Tràng hay chàng, vạt áo hay cổ áo” trên Blog tuancongthuphong).

- Câu tục ngữ “Mài mực ru con, mài son đánh giặc” đúc kết kinh nghiệm mài mực (Tàu) và mài son: Mài mực phải nhẹ nhàng như ru con; mài son phải mạnh mẽ như đánh giặc. Do không hiểu thủ pháp so sánh, ẩn dụ đặc biệt của dân gian, GS đành đoán liều, bất chấp sự vô lý trong cách giảng giải: “Nói các ông đồ ngày xưa ngày thường ngồi dạy học đồng thời giúp vợ làm việc vặt trong nhà, nhưng khi có giặc thì tham gia phục vụ quân sự” (!)

- Tương tự, câu “Hay ăn nhà bếp, chóng chết quản voi”. (Dị bản: No ăn nhà bếp, chóng chết quản voi). Câu tục ngữ này có hai vế đối xứng, cấu trúc từ theo kiểu tiểu đối: “Hay ăn” (tính từ) đi với “chóng chết” (tính từ); “nhà bếp” (danh từ chỉ nghề nghiệp) đi với “quản voi” (danh từ chỉ nghề nghiệp) bị GS Nguyễn Lân đổi thành “Hay ăn vào bếp, chóng chết quản voi”. Thế là “vào bếp” (động từ) bị đem đối với “quản voi” (danh từ). Rốt cuộc chính GS Nguyễn Lân trở nên lúng túng khi nhận thấy sự vô lý của nó và thắc mắc: “Hai việc này không ăn khớp với nhau”. Nhưng có lẽ GS liên tưởng tới câu “Muốn ăn thì lăn vào bếp” nên phỏng đoán, giải thích bừa: “Hay ăn vào bếp, chóng chết quản voi” (Quản một con voi dữ thì nguy hiểm) Hai việc này không ăn khớp với nhau, nhưng chỉ có nghĩa là tự mình làm lấy mà ăn là một chuyện tất nhiên”. Thế nhưng câu tục ngữ đang xét được hiểu tương tự như câu “Giàu thủ kho, no nhà bếp”. Nhà bếp thì hay được ăn (vì trực tiếp nấu ra đồ ăn thức uống); Quản voi thì dễ gặp nguy hiểm (vì có thể bị voi quật chết bất cứ lúc nào). Nghĩa bóng: Ai gắn bó với nghề nào thì được hưởng lợi trước tiên hoặc cũng bị nguy hiểm trước tiên từ nghề đó. (Có câu “Sinh nghề, tử nghiệp” là vậy).

- Câu “Vịt già, gà ” thuộc loại tục ngữ có cấu trúc đối sánh: Vịt với ; già với (non). Nhưng vì không xét đến quy luật cấu trúc câu, từ của dân gian là gì nên GS sẵn sàng để già (chỉ mức độ già, non) đối với to (chỉ khối lượng to, nhỏ). Rồi giải thích: “Vịt già, gà to Ý nói vịt già thì ăn được, còn gà thì phải to béo, chứ gà già thì thịt dai”. Cách giải thích này trở nên vô lý bởi gà “to béo” đâu có nghĩa là gà tơ, thịt không dai ? Ngược lại, con gà “to béo” hoàn toàn có thể là con gà già, đã đẻ nhiều lứa, thịt dai.

- Hoặc câu “Màn hoa lại trải chiếu hoa, bát ngà lại phải chiếu ngà mâm son Tả cái cảnh xa hoa của gia đình giàu sang ngày trước”.

Nếu như GS Nguyễn Lân có phương pháp tiếp cận, tôn trọng nguyên tắc đặt câu, biểu đạt ngữ nghĩa của dân gian, GS đã chẳng đưa ra một dị bản sai, lủng củng, trùng lặp đến vậy. Ví như vế đầu đã có “chiếu hoa”, vế sau không nhắc lại “chiếu ngà” nữa mà phải đũa ngà. (Mà thực tế cũng không có chiếu nào gọi là “chiếu ngà”). Không phải “bát ngà” mà là bát ngọc. Bát ngọc đi với đũa ngà đặt trên mâm son mới đúng. (Màn đi với chiếu, bát đi với đũa). Bỗng dưng cho bát đi với chiếu: bát ngà lại phải chiếu ngà mâm son” là tùy tiện. Câu Màn hoa lại phải chiếu hoa, Bát ngọc lại phải đũa ngà mâm son, ý nói: cái đẹp phải tương xứng, hài hoà, đồng bộ. Nói như Giáo sư: “tả cảnh xa hoa của gia đình giàu sang ngày trước” là thiếu căn cứ và lạc đề.

Sai lầm ở dạng chép sai hình thức thành ngữ, tục ngữ rồi đoán mò, suy diễn thành ngữ, tục ngữ theo ý chủ quan chiếm một phần lớn và rất nghiêm trọng trong “Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt Nam” của GS Nguyễn Lân (xin xem lại các kỳ Dĩ hư truyền hư)

Đối với cuốn “Từ điển từ và ngữ Hán Việt”, “Từ điển từ và ngữ Việt Nam” GS Nguyễn Lân vẫn “tâm đắc” với phương pháp “xem voi” để giải nghĩa từ nguyên. Kết quả là “trật” nhiều hơn “trúng”. Xin lấy vài ba ví dụ trong hàng trăm trường hợp “đoán trật” khi giải nghĩa từ nguyên của GS Nguyễn Lân (phần gạch đầu dòng là của GS Nguyễn Lân):


"Đèn huỳnh quang (Huỳnh: đom đóm; quang: ánh sáng)"
Không hiểu GS học chữ Hán thế nào mà nhầm lẫn tai hại đến vậy ? Chữ “huỳnh”  (bộ hỏa) nghĩa là soi sáng, sáng sủa (theo Hán Việt tự điển - Thiều Chửu). (hoàng ) do bộ hỏa () ghi nghĩa, thường dùng để cấu tạo những chữ chỉ ánh sáng, lửa, nhiệt... Còn chữ "huỳnh" với nghĩa con đom đóm lại có tự dạng là  (có bộ trùng  ghi nghĩa, thường dùng cấu tạo những chữ chỉ các loài côn trùng...) Nếu người học chữ Hán đến nơi đến chốn phải nắm được quy tắc cấu tạo chữ Hán chứ ? Hơn nữa, không ai dùng con đom đóm để chỉ loại đèn sáng trưng như "đèn huỳnh quang", thưa GS !

Chữ thần (辰) ở đây chỉ chung mặt trời, trăng, sao. Chữ thần (辰) này khi đọc là thìn lại có nghĩa là rồng – chi thứ năm trong thập nhị chi. Còn chữ thần trong tinh thần có tự dạng là (神), không liên quan gì đến bắc thần (北辰).

- Thủy tạ (tạ: ngôi nhà xinh) Ngôi nhà xây trên mặt nước để làm nơi giải trí: Nhà thủy tạ ở Hồ Tây.

Chữ “tạ” (榭) trong thủy tạ có nghĩa là “cái đài có nhà ở”. Nhưng phải chăng do soạn giả ngắm nhà thủy tạ ở Hồ Tây thấy nó xinh xắn quá nên đoán rằng chữ tạ ở đây (có lẽ) nghĩa là ngôi nhà xinh (!?)
Nếu không phải là GS Nguyễn Lân “đoán mò”, tại sao chữ với nghĩa vốn rành rành ra đó lại “trật lất hết trơn”, “Râu ông nọ cắm cằm bà kia” như vậy ? (Xin xem lại bài “Từ điển từ và ngữ Việt Nam” mục chữ cái nào cũng có sai sót” của Hoàng Tuấn Công trên tuancongthuphong)

Cũng vì sai lầm trong phương pháp luận mà GS Nguyễn Lân chủ trương giải thích từ nguyên một cách triệt để. Đến mức, GS tìm nghĩa từ nguyên cho cả những từ vay mượn ghi âm Hán Việt. Ví dụ: “Câu lạc bộ (Câu: đều; lạc: vui; bộ: bộ phận – Do từ Anh club phiên âm ra tiếng Trung Quốc” (“Từ điển từ và ngữ Việt Nam”). Đã là từ phiên âm tiếng Anh thì từng từ đơn lẻ chỉ làm nhiệm vụ ghi âm chứ không ghi nghĩa. Việc giải nghĩa từng từ như trên là hoàn toàn sai về phương pháp luận. Bởi thế cái sai kiểu này của GS Nguyễn Lân mang tính hệ thống. Ta còn gặp một số từ phiên âm khác được GS Nguyễn Lân đem ra “giải nghĩa từ nguyên” như: bồ đề, nha phiến, bạch phiến….

 Kiến thức, hiểu biết thấu đáo sẽ giúp soạn giả tìm ra phương pháp luận. Và phương pháp luận đúng đắn sẽ giúp soạn giả sử dụng hiệu quả kiến thức, hiểu biết. Nhưng có phương pháp luận trong tay mà thiếu kiến thức vẫn thất bại như thường. Bằng chứng là trong “Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt Nam”, GS Nguyễn Lân cũng đưa ra tiêu chí xác định, nhận diện thành ngữ: “Thành ngữ là những cụm từ cố định dùng để diễn đạt một khái niệm. Thế nhưng, do quan niệm đơn giản, máy móc rằng “thành ngữ là những cụm từ dùng để diễn đạt một khái niệm” nên GS Nguyễn Lân thu thập cơ man những cụm từ, thuật ngữ kinh tế, chính trị, ngoại giao, thể thao,… những danh từ, tổ hợp danh từ, quán ngữ… để đưa vào từ điển làm “thành ngữ tục ngữ”. Như: Cách mạng xanh; Chạy đua vũ trang, Chiến tranh cân não; Chiến tranh chớp nhoáng; Chiến tranh lạnh; Chiến tranh tâm lý, Lãnh sự tài phán; Đấu vòng tròn; Khủng bố trắng; Khăn chữ nhất; Khăn đầu rìu; Khăn mỏ quạ; Khăn quàng đỏ; Khăn vành dây; Không chán mắt; Không chê được; Không tài gì; Không thể nào; Rất chi là; Rinh tùng rinh; Lễ lại mặt; Tuổi dậy thì,… (xin xem lại bài Dĩ hư truyền hư kỳ cuối).

Về hình thức, thành ngữ là một cụm từ, chưa phải là một câu như tục ngữ. Điều này đã được nhiều nhà nghiên cứu văn hóa dân gian nói đến. Tuy nhiên, cần hiểu thêm: thành ngữ không phải là cụm từ bình thường mà là một cụm từ đặc biệt, có kết cấu chặt chẽ, tính khái quát, so sánh, gợi tả cao và đầy ẩn ý. Bởi thế, khái niệm mà thành ngữ diễn đạt cũng không phải là khái niệm bình thường mà là khái niệm đặc biệt. Nói cách khác, khái niệm mà thành ngữ nói đến không phải “khái niệm chết” chỉ để gọi tên sự vật hiện tượng nào đó mà có nghĩa hàm ẩn, nghĩa suy ra từ nghĩa đen của cụm từ được gọi là thành ngữ. Ví dụ câu “Ếch ngồi đáy giếng”. Nội dung, khái niệm thành ngữ nói đến không dừng ở nghĩa đen con ếch ngồi ở dưới đáy giếng mà nhằm so sánh, ám chỉ một người hiểu biết nông cạn, hạn chế, nên nhận thức sai về sự vật xung quanh. Trong khi cũng là cụm từ, cũng nhằm diễn đạt một khái niệm với lối ấn dụ, so sánh, nhưng “Chiến tranh lạnh” hay “Cách mạng xanh” mà GS Nguyễn Lân đưa ra không được xem là thành ngữ. Bởi nội dung cụm từ này chỉ dừng ở việc gọi tên một dạng chiến tranh, một kiểu cách mạng trong nông nghiệp. Hoặc Khăn chữ nhất, Khăn đầu rìu, Khăn mỏ quạ ngoài ý nghĩa gọi tên các loại khăn theo hình dáng của nó thì các cụm từ này không mang nghĩa hàm ẩn nào khác. Hay Không chán mắt, Không chê được; Không tài gì; Không thể nào… các nhà nghiên cứu xếp vạo loại “quán ngữ” (từ quen dùng) chứ không phải thành ngữ

 Trong “Đôi lời tâm sự thay lời tựa” của sách “Từ điển từ và ngữ Việt Nam” GS Nguyễn Lân viết: “Nhận thấy rằng sinh viên và học sinh các trường không có một từ điển tiếng Việt nào để tra cứu, một số chúng tôi đã quyết định cùng họp lại để giải quyết sự thiếu thốn ấy. Vì thế năm 1969, quyển Từ điển tiếng Việt đầu tiên của chế độ ta đã được ra mắt bạn đọc”. Từ điển là khoa học. Bởi thế, dù được biên soạn bởi ai, dưới chế độ nào đều phải đảm bảo tính khoa học, khách quan. Không rõ GS Nguyễn Lân quan niệm từ điển “của chế độ ta” khác những gì với từ điển của những chế độ trước đó ? Ví như “Việt Nam tự điển” của Hội Khai Trí Tiến Đức xuất bản năm 1931 đến bây giờ vẫn là công cụ hữu ích của các nhà nghiên cứu. Trong đó, chúng ta tìm thấy dấu ấn lịch sử của ngôn ngữ mà không thấy dấu ấn, bàn tay của chế độ thực dân phong kiến. Ở một khía cạnh nào đó, dường như GS Nguyễn Lân bị quan điểm giai cấp chi phối công việc của người làm khoa học. Ví như dân gian có tư duy, nhìn nhận, đánh giá sự vật, hiện tượng theo kiểu của dân gian. Tư duy đó tiến bộ, khoa học hay hạn chế đều mang dấu ấn lịch sử của quá trình nhận thức thế giới tự nhiên và mối quan hệ xã hội. Nhiệm vụ của người làm từ điển là tập hợp và giải thích nghĩa đen, nghĩa bóng, cách hiểu, cách dùng thành ngữ, tục ngữ dân gian một cách khách quan, đúng như nó vốn được đúc kết, được hiểu, được dùng trong thực tế. Thế nhưng, GS Nguyễn Lân lại vi phạm nguyên tắc khách quan, khoa học đó khi đứng trên quan điểm giai cấp, cá nhân cực đoan, đả phá, phản đối nội dung nhiều câu thành ngữ, tục ngữ:

Đắng cay cũng thể ruột rà, ngọt ngào cho lắm cũng là người dưng Quan niệm cũ kỹ cho rằng người có họ với mình, dù ăn ở không tốt, cũng hơn là ngừơi dưng tử tế với mình.

Máu loãng còn hơn nước lã Quan niệm cũ cho rằng dù là họ hàng xa cũng còn hơn người dưng.
Máu mủ chẳng thương, thương thiên hạ hàng xứ Lời trách móc theo quan niệm cũ cho rằng có họ hàng với nhau thì phải đùm bọc, thương yêu hơn là đối với người dưng.

Ba câu trên khuyên người ta phải biết yêu thương người thân, máu mủ, ruột thịt; đề cao tình cảm huyết thống, dòng tộc. Điều đó không có gì là xấu, là “quan niệm cũ kỹ”. Bởi “Gia đình là tế bào của xã hội”, con người trước tiên phải ý thức được tình cảm máu mủ, ruột thịt, phải biết yêu thương ông bà, cha mẹ mới có thể yêu thương anh em, bạn bè, đồng chí. Rộng hơn nữa là ý thức đồng bào, dân tộc rất đáng được trân trọng. Và thương yêu người thân không có nghĩa ghét bỏ người dưng. Người trong một nước thương yêu nhau không có nghĩa là ghét bỏ nhân loại. Như câu ca dao “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, Người trong một nước phải thương nhau cùng”. Vậy GS nghĩ sao ?

Với GS, tất cả những gì dính dáng tới xã hội cũ, phong kiến, quan lại, đàn ông đều là xấu xa, đều là cũ kỹ, lạc hậu. Ngược lại, những cái thuộc về ngày nay đều muôn phần tốt đẹp:

- Bạc thì dân, bất nhân thì lính. Lời phàn nàn của bọn quan lại trong chế độ phong kiến, khi người ta đối xử không hậu hĩ với chúng.

- Mẹ chồng không ai nói tốt nàng dâu Đó là hiện tượng khá phổ biến trong xã hội cũ, nhưng ngày nay trái lại, nhiều khi mẹ chồng yêu con dâu như con đẻ của mình.

- Tài trai lấy năm lấy bảy, gái chính chuyên chỉ lấy một chồng Luận điệu ích kỷ của bọn đàn ông trong chế độ phong kiến.

- Trai làm nên, năm thê bảy thiếp; gái làm nên thủ tiết thờ chồng Nói lên cái tính ích kỷ của bọn đàn ông trong chế độ đa thê thời phong kiến.

- Mấy đời gỗ mục đóng nên thuyền rồng ý nói Bản chất xấu thì không thể trở nên người tốt. Tuy nhiên trong xã hội ta, nhiều người xấu được cải tạo cũng trở nên tốt.

Đọc những lời trên, chúng ta có cảm giác GS Nguyễn Lân đang lên lớp trong một tiết học có nội dung chống đế quốc phong kiến chứ không phải đang làm từ điển. Mặt khác, cách phê phán của GS cũng không đúng. Ví dụ câu “Mấy đời gỗ mục đóng nên thuyền rồng” tục ngữ không nói đến việc “bản chất xấu không thể cải tạo thành người tốt”, mà ý nói vật cũ nát, tầm thường thì không thể sử dụng vào việc lớn. Điều này có thực tế nghĩa đen và rất biện chứng. Thế nên sách Luận ngữ ra đời cách nay hàng ngàn năm đã viết: “Hủ mộc bất khả điêu dã, phấn thổ chi tường bất khả ô dã” Nghĩa là: Gỗ mục không thể chạm khắc, vách đất không thể tô vẽ (Luận ngữ – Công Dã Tràng).

Thậm chí GS Nguyễn Lân còn đứng trên quan điểm duy vật biện chứng của triết học Mác-Lê nin để áp đặt cho tư duy dân gian và phê phán nội dung nhiều câu thành ngữ, tục ngữ. Ví dụ câu: “Dương làm sao, âm làm vậy” phần nào thể hiện tín ngưỡng, tôn giáo, thế giới quan của người xưa, đã không được GS giải thích, ngược lại bị “sổ toẹt” bằng một câu: “lời tin nhảm của kẻ mê tín” !

 Thực tế, dù làm nghề đào đất cũng phải nắm được thân đất mình đào là đất sét hay đất cát, đất sỏi đá hay đất tơi xốp, rồi mới tính chuyện nên sử dụng mai, thuổng, hay xẻng, xà beng để đào cho hiệu quả. Thật khó cho GS Nguyễn Lân bởi một khi chưa có hiểu biết cần thiết về cơ sở ngôn ngữ học nói chung và thành ngữ tục ngữ nói riêng làm sao có thể nói đến việc lựa chọn phương pháp tiếp cận nào cho đúng ? Những sai lầm mang tính hệ thống trong các sách từ điển do GS Nguyễn Lân biên soạn có nguyên nhân chủ quan và khách quan. Phương pháp luận chỉ là một trong nhiều nguyên nhân dẫn đến thất bại của GS Nguyễn Lân ở lĩnh vực biên soạn từ điển.

Thử lý giải những sai sót để đời của Nhà biên soạn từ điển-GS Nguyễn Lân- kỳ 2

Kỳ 2:Thiếu kiến thức cơ sở ngôn ngữ học

 Hoàng Tuấn Công

 GS Nguyễn Lân - Nhà biên soạn từ điển, Học giả nổi tiếng Việt Nam, tác giả và đồng tác giả của 10 cuốn từ điển tiếng Việt và từ điển song ngữ. Sao có thể nói “thiếu kiến thức cơ sở ngôn ngữ học” ? Nhận xét này quả là hồ đồ !
Kiến thức cơ sở ngôn ngữ học được hiểu là nền tảng kiến thức, những hiểu biết cơ bản nhất về bộ môn khoa học này.
Nền tảng có vững thì những công trình xây dựng trên đó mới vững. Vậy, chúng ta hãy xem GS Nguyễn Lân đã nắm vững hoặc hiểu biết thấu đáo những thuật ngữ, khái niệm, thuộc tính của ngôn ngữ, thành ngữ, tục ngữ hay GS lẫn lộn giữa cái nọ với cái kia, sai lầm này đẻ sai lầm khác ?

-Không phân biệt được cụm từ (đơn thuần), ngữ danh từ, thuật ngữ, quán ngữ với thành ngữ:

Trong một số bài trước đây, chúng tôi đã nói đến vấn đề nhận diện thành ngữ, tục ngữ của GS Nguyễn Lân. GS không phân biệt được cụm từ, ngữ danh từ, quán ngữ với thành ngữ, chưa phân biệt được tục ngữ với ca dao. Có bạn đọc gửi ý kiến phản hồi, đề nghị chúng tôi xem lại, bởi cho rằng có sự nhầm lẫn nào đó chăng ? Thú thực, ban đầu chúng tôi cũng không tin GS Nguyễn Lân-người làm từ điển thành ngữ, tục ngữ lại đến mức chưa đủ kiến thức nhập môn về thành ngữ. Có lẽ nguyên nhân nào đó khiến “đội quân” ngữ danh từ, quán ngữ, thuật ngữ đã "trà trộn" vào từ điển thành ngữ, tục ngữ của GS. Nhưng muốn biện hộ cho GS mà chẳng xong ! Bởi những "ngụy” thành ngữ này được chính GS Nguyễn Lân tuyển chọn, "biên chế" vào hàng ngũ hẳn hoi. Khi rải rác, lúc dày đặc, từ A đến Y, vần nào cũng thấy có mặt "chúng", lại được GS giải thích "như ai”. Thậm chí GS còn cho chúng có cả nghĩa đen, nghĩa bóng (!) Sau khi xuất bản (1989), “Từ điển thành ngữ tục ngữ Việt Nam” còn có hàng chục lần tái bản (kể cả khi GS Nguyễn Lân còn sống). Nếu là sai sót về mặt cơ học (như khâu chế bản) những “ngụy thành ngữ” này phải được loại bỏ. Vậy cái sai này hoàn toàn không phải do sơ suất. Dường như nguyên nhân của nó đã nằm ngay trong cách giải nghĩa từ “ngữ” của GS Nguyễn Lân: Ngữ dt Thành ngữ nói tắt: Từ điển từ và ngữ Việt Nam”. Như vậy, đối với GS Nguyễn Lân, “ngữ” chỉ có một nghĩa duy nhất“thành ngữ”. Trong khi “Từ điển tiếng Việt” (Hoàng Phê) giải nghĩa: ngữ d đơn vị ngữ pháp trung gian giữa từ và câu; ngữ danh từ; ngữ cố định; đồng nghĩa: cụm từ”.

Sau đây, mỗi mục chữ cái chúng tôi chỉ lấy ví dụ một vài trường hợp. Có mục, chúng tôi thống kê theo thực tế để thấy GS Nguyễn Lân đã xem những ngữ danh từ, cụm từ, quán ngữ “bình đẳng” với thành ngữ, tục ngữ chính hiệu như thế nào. (Phần in nghiêng, nghiêng đậm là nguyên văn cụm từ của GS Nguyễn Lân, Hoàng Tuấn Công cắt phần giải thích để đỡ dài dòng): Anh em cọc chèo, Ăn cắp ăn nảy, Bay lả bay la, Bi ba bi bô; Cách mạng xanh; Chạy đua vũ trang; Chiến tranh cân não; Chiến tranh chớp nhoáng; Chiến tranh lạnh; Chiến tranh tâm lý; Da bánh mật; Da bọc xương; Đấu vòng tròn; Ẽo à ẽo ẹt; Ê a ề à; Gầm ghè gầm gừ; Hả lòng hả dạ;Hí ha hí hoáy; Hơi đâu mà; Ì à ì ạch; Khủng bố trắng; Khăn chữ nhất; Khăn đầu rìu; Khăn mỏ quạ; Khăn quàng đỏ; Khăn vành dây; Không chán mắt; Không chê được; Không tài gì; Không thể nào; Lãnh sự tài phán; Lễ lại mặt; Mất công toi; Mới đấy mà đã; Nói chuyện gẫu, Nói gì thì nói, Phát canh thu tô;Quan phụ mẫu; Quân trang quân dụng; Rất chi là; Rinh tùng rinh; Rắc rối to; Râu quai nón; Rất chi là; Sát sàn sạt; Sóng bạc đầu; Tái xanh mặt; Tân giai nhân; Tân lang; Tuổi dậy thì; Thi đua hai tốt; Ú a ú ớ; Ù tay trên; Ừ à ừ ào; Ưỡn à ưỡn ẹo; Vị thành niên, Xa lắc xa lơ; Xanh hoa lý; Y như nhau, Y như rằng; Ý trung nhân;...

Trong hàng trăm “ngụy” thành ngữ trên, có vài ba câu có thể “cải tạo” để chúng trở thành thành ngữ thực thụ. Nhưng với điều kiện phải thêm, bớt từ và giải thích theo hướng khác. Ví dụ: “Bi ba bi bô” vốn được GS Nguyễn Lân giải nghĩa là“nói tiếng trẻ em mới tập nói hoặc người lớn mới học một ngoại ngữ”, chỉ được xem là một cụm từ láy. Nếu sửa lại: Bi bô như trẻ học nói hoặc Bi bô như trẻ lên ba, và giải nghĩa: Ám chỉ người nói ngọng hoặc đang cố gắng phát âm một ngoại ngữ, ta có một đơn vị có thể gọi là thành ngữ. Bởi Bi bô như trẻ học nóicũng là cụm từ, nhưng bản thân nó đã đưa ra một nhận xét, một so sánh bằng liên từ “như” rất đặc trưngcủa thành ngữ. Hoặc “In như nhau” GS giải thích “Nói hai vật hoặc hai người hết sức giống nhau”. Nếu sửa lại: Giống như in, Giống như đúc, Giống như hai giọt nước và giữ nguyên cách giải thích của GS, ta cũng có một đơn vị có thể gọi là thành ngữ. Hoặc như câu “Tân giai nhân” GS Nguyễn Lân giải thích “Nghĩa đen: Người con gái đẹp - Chỉ cô dâu mới về nhà chồng”, đây mới chỉ là một ngữ danh từ. Nếu sửa thành Bẽn lẽn như tân giai nhân hoặc Như tân giai nhân, (thành ngữ: Như gái mới về nhà chồng) và giải thích: Nói ai đó giao tiếp rụt rè, không được tự nhiên, thì danh từ đơn thuần sẽ trở thành cụm từ đặc biệt, có thể gọi là thành ngữ. Còn lại, đối với một số ngữ danh từnhư:Quân trang quân dụng tức quần áo và đồ dùng của quân đội", “Đấu vòng tròn nói cuộc thi đấu thể thao đấu lần lượt với mọi đấu thủ”, “Thi đua hai tốt Khẩu hiệu do Hồ Chủ tịch đưa ra để yêu cầu thầy giáo học tốtvà học sinh học tốt” (đúng ra phải là thầy giáo dạy tốt chứ ?) hoặc quán ngữ: Nói gì thì nói, Rắc rối to...Từ láy: Ú a, ú ớ; Ì à ì ạch, thì chỉ có phép “thần thông quảng đại” mới có thể biến chúng thành “thành ngữ” như GS đã làm.

Trong “Lời nói đầu” sách “Từ điển thành ngữ tục ngữ Việt Nam”, GS Nguyễn Lân cho biết: “Chúng tôi chỉ chọn những thành ngữ có 3 từ trở lên và coi những thành ngữ có hai từlà những từ ghép”. Cách đưa ra tiêu chí này có vấn đề. Cách diễn đạt của Nhà biên soạn từ điển cũng không ổn. Bởi nếu đã là thành ngữ thì hai, ba hay bốn hoặc năm từ nó vẫn là thành ngữ và ngược lại. Trong thực tế, không hề có loại thành ngữ chỉ có hai từ. Bởi vậy, không cần đưa ra tiêu chí để loại bỏ chúng. Viết như vậy khác nào đưa ra tiêu chí phân biệt cuốn sách với tờ giấy và nói rằng: “Những cuốn sách chỉ có một trang chúng tôi sẽ không xem là một cuốn sách mà xem là một tờ giấy" (!). Giới hạn “cẩn thận” là vậy, nhưng rốt cuộc trong sách từ điển của GS vẫn có một đơn vị “thành ngữ” chỉ có hai từ, đó là “Tân lang” với lời giải thích của GS “chàng trai mới, chỉ chú rể mới”.

-Không phân biệt tục ngữ với ca dao:

 Cũng như thành ngữ với tục ngữ; tục ngữ và cao dao có không ít câu khó phân biệt rạch ròi. Tuy nhiên xét về hình thứcnội dung của mỗi thể loại, cơ bản chúng ta vẫn nhận diện được. Ví như: Tục ngữ thường là một câu ngắn gọn; Ca dao thường có hình thức lục bát; Tục ngữ là tri thức, kinh nghiệm, tư duy về cuộc sống, sản xuất, thế giới tự nhiên... Ca dao thiên về tình cảm, tính chất trữ tình... Ca dao có thể dùng để hát, để ru...Tục ngữ không ru, không hát được. Một số câu tục ngữ có hình thức lục bát nhưng nội dung là tục ngữ thì phải xem là tục ngữ (Ví dụ: Én bay thấp mưa ngập bờ ao, Én bay cao mưa rào lại tạnh). Tuy nhiên, những câu mà cả hình thức lẫn nội dung đều thuần ca dao, không có lý do gì lại xếp vào tục ngữ, thành ngữ như GS Nguyễn Lân đã làm. Ví dụ:

“Chiều chiều ngó ngược ngó xuôi,

 Ngó không thấy mẹ ngùi ngùi nhớ thương”.

Hoặc:

Chiều chiều ra đứng ngõ sau,

 Nhớ về quê mẹ ruột đau chín chiều”

-Không phân biệt thành ngữ, tục ngữ với câu đố.

Câu đố là sự thách đố đơn thuần về lý trí. Cách cấu tạo câu đố là khai thác đặc điểm nào đó của sự vật, nhân cách hóa nó, chơi chữ, thành ra mập mờ, kỳ lạ, khiến người ta khó hiểu, phải phán đoán thế này thế kia. Cuối cùng khi nghe giảng giải mới vỡ lẽ: hiện tượng, sự vật ấy ở ngay trước mắt mà không biết. Dùng câu đố làm tục ngữ, hoặc dùng tục ngữ làm câu đố là chuyện rất khó bởi chúng là hai thể loại khác nhau, mục đích khác nhau. Vì không hiểu đặc trưng của câu đố nên GS Nguyễn Lân mới "tuyển chúng" vào làm tục ngữ (phần gạch đầu dòng là của GS Nguyễn Lân):

- Con đóng khố, bố cởi truồng Tả cảnh nghèo khổ của nhân dân trong chế độ cũ.

 Thực ra đây là câu đố về cây măng và cây tre

-Đào chẳng thấy, lấy chẳng đượcTức là: Sâu kín quá, không sao phát hiện được.

Thực ra đây là câu đố về mặt trăng in bóng dưới ao.

-Con lành con ở cùng bà, váng mình sốt mẩy con ra ngoài đồng Nói lên cái ích kỷ nhẫn tâm của bọn địa chủ thời xưa đối với người làm trong nhà.

Thực tế, đây là câu đố về quá trình cất giữ, ngâm ủ và đem gieo của hạt giống lúa.

Đến nhận diện tục ngữ, thành ngữ, ca dao, câu đố còn lúng túng, việc giải thích thành ngữ, tục ngữ sai tràn lan của GS Nguyễn Lân là điều dễ hiểu. Nguyên nhân của sai lầm trên là gì, nếu không phải là thiếu hiểu biết cơ bản về thành ngữ, tục ngữ dân gian ?

-Về một số khái niệm, thuật ngữ nói chung:

 Trong sách “Muốn đúng chính tả” (NXB Văn Hóa Thông Tin-2010), GS Nguyễn Lân lẫn lộn cái nọ với cái kia. Ví dụ, GS viết: “Một số tiếng Hán Việt bắt đầu từ trkhi đã Việt Nam hóa mà đọc chạnh đi thì lại thành những tiếng bắt đầu bằng ch”.Hoặc “Những tiếng Kinh bắt đầu từ vần tr thì tiếng Mường bắt đầu bằng cl” (tr.8) Rồi: “Đa số tiếngHán Việt bắt đầu bằng d thì trong tiếng Trung Hoa (tiếng Bắc phương) bắt đầu bằng âm i hoặc âm u” (tr.10) Ở đây, GS nhầm lẫn giữa “từ” (đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất), “âm” (đơn vị ngữ âm nhỏ nhất) với “tiếng” (ngôn ngữcủa một dân tộc hoặc giọng nói của một địa phương). Thực tế, hoàn toàn không có cái gọi là “tiếng Hán Việt” trừ khi người Việt có cách dùng từ, ngữ pháp y hệt như người Hán (hiện đại), chỉ khác phát âm theo cách của người Việt. Ví dụ, vốn nói: Đồ đạc của tôi, nay nói: Ngã đích đông tây. Hoặc vốn nói: Vợ (của) anh, lại nói: Nhĩ lão bà; Đàn ca tài tử lại nóiTài tử đàn xướng,v.v...

 Tiếng Trung Hoa là ngôn ngữ của người Trung Hoa. Giống như tiếng Anh, tiếng Pháp vậy. Nếu ý GS muốn biểu đạt “tiếng” ở đây nghĩa là cách phát âm, giọng chuẩn của người Trung Quốc thì phải viết là tiếng Bắc Kinh chứ không phải là “tiếngTrung Hoa”. Mặc dù GS đã mở ngoặc là “tiếng Bắc phương”, nhưng “Bắc phương” ở đây là nhìn từ Việt Nam hay nhìn từ Trung Quốc ? Nếu nhìn từ Trung Quốc thì “Bắc phương” (phía Bắc) Trung Quốc biết bao dân tộc, lấy đâu làm chuẩn ?

Thuật ngữ, khái niệm của Nhà biên soạn từ điển mà nôm na, thiếu chính xác như vậy, việc giải nghĩa từ vựng theo kiểu “đoán chừng” của GS cũng là điều dễ hiểu (Xin xem lại Kỳ 1-Phương pháp luận)

Trong sách "Tôi yêu tiếng Việt" (Dẫn theo “Một số trở ngại trong thống nhất chính tả của chúng ta”-GS. NGND Nguyễn Lân-Tạp Chí Tác Phẩm Mới-NXB Văn Học/2013) GS Nguyễn Lân cũng không phân biệt được thế nào là phát âm sai, phát âm lẫn lộn, thế nào là tiếng, giọng (phương ngữ, thổ âm, thổ ngữ) của các vùng miền. Ví dụ GS Nguyễn Lân nhận xét: "Ở miền Nam, một số đồng bào, nhất là ở thôn quê:

-Lẫn phụ âm vd, nên đi nói là đi , vái lạy nói là dái lạy...

-Lẫn khuôn âm iên với khuôn âm iêng, nên có người tên đáng lẽ viết là Liên lại viết là Liêng.

-Ở Nghệ Tĩnh, nhiều người lẫn lộn dấu ngã (~) và dấu (.), như đọc Hà Tĩnh thành Hà Tịnh" (Dẫn theo “Một số trở ngại trong thống nhất chính tả của chúng ta”.

Theo GS Nguyễn Lân, sự “lẫn lộn” đó là những nguyên nhân khiến người ta viết sai chính tả. Tuy nhiên, trong thực tế, tuy phát âm là Hà Tịnh nhưng người xứ Nghệ vẫn viết là Hà Tĩnh, chứ không phải Hà Tịnh như GS lầm nghĩ. Hơn nữa, nếu coi đây là sự lẫn lộn thì cả miền Nam lẫn lộn chứ không riêng gì Hà Tĩnh. Ai cũng biết đó là bản sắc ngôn ngữ, tiếng địa phương, thổ âm, thổ ngữ của vùng miền. (GS Nguyễn Lân có mấy cuốn sách dạy viết đúng chính tả và luôn kêu gọi phải viết đúng chính tả. Nhưng chính GS lại là người viết sai chính tả bậc nhất. Chúng tôi sẽ có riêng một kỳ thử lý giải về vấn đề này).

Tất cả những hiểu biết trên đây đều thuộc dạng nhập môn của ngôn ngữ nói chung và thành ngữ, tục ngữ nói riêng. Độc giả đọc loạt bài của Hoàng Tuấn Công chắc sẽ nhận thấy, một số ý trùng lặp. Điều này chúng tôi đã lý giải ở kỳ trước. Ví như kiến thức, hiểu biết thấu đáo sẽ giúp soạn giả tìm ra phương pháp luận. Và phương pháp luận đúng đắn sẽ giúp soạn giả sử dụng hiệu quả kiến thức, hiểu biết. Phương pháp luận cũng chính là kiến thức. Bởi vậy, phương pháp luận và kiến thức tuy hai mà một, có mối quan hệ khăng khít với nhau. Sai sót để đời của GS Nguyễn Lân do nhiều nguyên nhân. Cái nọ liên quan đến cái kia. Sự phân loại của chúng tôi chỉ mang tính chất tương đối để bạn đọc tiện theo dõi.

                                                                                   H.T.C

Kỳ sau

Thử lý giải những sai sót để đời

của Nhà biên soạn từ điển-GS Nguyễn Lân

Lỗ hổng kiến thức Hán Nôm
“Giấu được giàu, không ai giấu được nghèo” (Tục ngữ)

Anh cu Đo



Nguyễn Quang Lập 
Làng Đông có vè: Hay cãi cu Luật, hay đập cu Hinh, đánh rắm thối inh là anh cu Khả...  Lại có vè: Cu Luật hay cãi, cu Thái hay lo, cu Đo hay cấm, cu Chấm hay thơ, cu Bơ hay lẹo…..Mấy anh cu Bơ, cu Hinh, cu Thái,cu Khả, cu Chấm… mình không biết. Hồi ở làng Đông mình không thấy họ, có thể họ đã đi bộ đội hay đi kinh tế mới lâu rồi. Anh cu Luật mình đã kể rồi, giờ kể nốt chuyện anh cu Đo.


Anh cu Đo lúc đầu ở  trước nhà thằng Tâm con ông cu Thành, sau chuyển về  ở sau nhà chị Xuân con ông Mẹt Nhiệt, sau chuyển về ở cạnh nhà anh cu Tý con ông cu Nhuế, rốt lại mình chẳng nhớ anh cu Đo ở đâu nữa. Gần chục năm sống ở làng Đông mình thấy anh cu Đo nhổ nhà chỗ này cắm nhà chỗ kia loạn cả lên. May anh có của nả ông bà để lại nếu không anh cũng sẽ sạt nghiệp theo chuyển nhà.

To cao trắng trẻo đẹp trai hát hay, anh cu Đo thuộc loại hot boy trong làng. Chị Lê vợ anh cũng xinh và hiền, hiền vô kể, ai nói gì cũng cười, ít khi thấy chị cãi nhau với ai bao giờ. Nhác qua thấy họ hạnh phúc, nhưng không, chị Lê hết nước mắt với anh cu Đo.

Cũng chẳng có gì to tát, chỉ vì với việc làng anh nhiệt tình năng nổ xông xáo quá đáng. Anh chẳng có chức sắc gì, một chân tổ trưởng cũng không. Bất kì một cuộc bầu bán nào anh cũng hăng hái ứng cử nhưng chẳng ma nào bầu cho anh. Người làng Đông vốn ghét đa sự, ghét luôn mấy kẻ thích quan trọng hóa, máu quan quyền. Cứ thấy anh nào thích quan trọng hóa, máu quan quyền không bao giờ họ bầu dù kẻ đó có giỏi bằng giời. Khốn thay cả hai thứ đó thứ nào anh cu Đo cũng đầy ắp, hi hi.

Anh cu Đo  tự thấy mình phải có trách nhiệm ở khắp mọi nơi, bất kì việc gì xảy ra trong làng anh cũng ra sức đôn đốc giải quyết. Nội mỗi chuyện họp đội không thôi cũng đủ mệt với anh. Đã qui định rồi, kẻng đội đánh một hồi sáu tiếng là đi họp nhưng anh luôn lo người ta bỏ họp, phải đôn đốc tới nơi tới chốn. Buổi chiều đi cày về anh thả cày vọt đến nhà này, nói tối nay họp đội nghe chưa; lại vọt đến nhà kia nói đến nhà  nói tối nay họp đội nghe chưa… cứ thế anh hết đi hết cả trăm hộ trong đội.

Ăn cơm xong anh lại lượn một vòng đủ trăm hộ, đến nhà này nói mau ra họp đội nha, đến nhà kia nói mau ra họp đội nha. Nghe lắm nhàm tai chẳng ai thèm trả lời anh, anh cũng chẳng cần ai trả lời. Nhưng nhà nào đi chậm hoặc bỏ họp là anh vọt đến ngay, tay chỉ miệng quát, nói à ha, giờ ni không ra họp à bay- À ha có ra họp không đó hả. Đa số đều ngọt nhạt trình bày lý do để anh đi cho khuất mắt, cũng có nhà điên lên, nói tau không đi họp đó, mi mần c. chi tau. Thế là cãi nhau ầm ầm, có khi còn đánh nhau nữa.

Bốn vách kho đội 1 đều treo biển cấm của anh cu Đo: Cấm nói chuyện riêng trong khi họp, cấm đan lát thêu thùa trong khi họp, cấm ngủ gật trong khi họp. Tự anh treo lên chứ chẳng ai bảo. Giá ông đội trưởng nhắc anh bỏ đi, nói thôi em ạ, mấy thứ đó mình nhắc nhở thôi, cấm đoán làm chi, tự khắc anh cu Đo sẽ tháo luôn mấy cái biển cấm. Đằng này chẳng có ai bảo, người nghĩ nó treo biển thế cũng chẳng sai, người nghĩ thôi kệ cha nó muốn treo gì thì treo, việc mình mình làm.

Anh cu Đo không nghĩ vậy, anh đinh ninh mấy cái biển anh treo lên đó là luật rồi, nhất nhất mọi người phải tuân theo. Hễ ai làm việc riêng nói chuyện riêng trong khi họp là anh nhảy lên tay chỉ miệng quát, nói này, à ha không thấy cái biển đó à, có mù không đó- À ha không chịu chấp hành, gan to hè. Mọi người cũng chỉ cười xòa, không chấp. Lâu ngày thành quen, anh cu Đo lấn ra ngoài làng, khắp nơi có biển cấm của anh: Cấm ỉa bậy đái bậy, Cấm chặt cây rừng trâm bầu, Cấm ăn cắp đất cày của hợp tác, Cấm khạc nhổ lung tung, cấm đ. bậy… Người gật gù khen, nói cu Đo  có tinh thần trách nhiệm; người cười khẩy văng tục, nói đ.mạ cu Đo hết việc rồi à bay, thăng ni e điên. 

Nhiều người tìm đến Chủ nhiệm thắc mắc, nói cu Đo quyền hành chi mà cấm lung tung? Chủ nhiệm cười cười, nói ừ nhưng mà nó cấm có sai đâu. Được lời anh cu Đo càng hăng hái cấm. Một hôm khắp đường làng bỗng xuất hiện biển cấm của anh: Cấm trâu bò ỉa trên đường làng. Mọi người rũ, nói vơ cu Đo nời, lệ làng có rồi, trâu bò nhà ai ỉa nhà đó dọn, răng mi còn cấm. Anh cu Đo đầu lắc tay xua, nói phải cấm không được cho trâu bò ỉa, ỉa rồi dọn nói làm chi. Mọi người phải có trách nhiệm huấn luyện cho trâu bò không được ỉa trên đường làng. Mọi người cười rũ. Có người dắt bò đến trước mặt anh, nói đây, bò tau đây. Mi huấn luyện răng cho nó không ỉa trên đường làng tau cho mi cả con bò. Anh cu Đo không nói, cắm cái biển cấm cái phập, nói chấp hành đi, không oong đơ chi hết!

 Anh cấm cứ cấm, trâu bò ỉa cứ ỉa. Cứ mỗi lần phát hiện trâu bò ỉa chỗ nào trên đường làng là anh lại làm thêm cái biển cấm cắm ngay ở đó. Đường làng hơn cây số có đến trăm cái biển cấm của anh cu Đo. Suốt ngày anh loay hoay làm biển cấm, bỏ hết việc nhà việc Hợp tác. Ai cười chê mặc anh cứ làm, biển cấm này bị nhổ bỏ đi anh lại làm biển khác, không biết chán nản mệt mỏi là gì. Chị Lê vốn hiền lành nhu mì cũng phát rồ với anh, nói anh cấm chi cấm lắm, cấm được người ta anh sướng lắm à. Anh trừng mắt lên, nói em là vợ anh, không được nói năng vô trách nhiệm.

Một chiều anh cu Đo đang loay làm thêm mấy cái biển cấm thì chị Lê với hơn chục chị đi vào, ai nấy đầy một ôm biển cấm trên đường làng,. Anh ngạc nhiên hỏi chi rứa. Mọi người xổ chục ôm biển cấm ra cả một đống, biển nào biển nấy ghi đúng một dòng: Cấm Đo Lê ỉa trên đường làng. Anh cu Đo gầm lên, nói đ. mạ bọn phản động. Anh hì hụi xóa chữ Đo Lê thay bằng chữ trâu bò,mặc chị Lê lăn lóc rên rĩ van xin anh vẫn ngồi sửa hết cả trăm cái biển cấm. Rồi anh lại vác trăm cái biển cấm ra đường làng cắm cho đến sáng hôm sau mới xong. Tối hôm đó nghe nói chị Lê ra giếng làng tự vẫn, may có người cứu được.

Chuyện anh cu Đo mấy chục năm rồi mình vẫn nhớ như in, riêng việc vì sao anh chuyển nhà cả chục lần là mình không biết. Năm ngoái anh cu Tý con ông cu Nhuế vào Sài Gòn cưới chồng cho con, ông chồng là cháu ruột vợ mình. Anh em gặp nhau hàn huyên làng Đông, mình có hỏi vì sao anh cu Đo hay chuyển nhà, Anh cu Tý mắt trợn miệng há, nói oa chà thằng ni không biết à bay. Rồi anh kể, vừa cười vừa kể, nói ông Cu Đo mắc bệnh khó ngủ, nghe tiếng con nít khóc tiếng hát ru ông càng khó ngủ. Cu Đo mới làm biển: Cấm con nít khóc sau chín giờ đêm, cắm trước ngõ những nhà có con nít mới đẻ quanh xóm ông. Chẳng những ông không cấm được mà còn bị người ta chửi cho, rứa là ông đành phải nhổ nhà đi cắm chỗ khác. Anh cu Tý vỗ đùi đánh bốp, nói mi biết không, hay ở chỗ là thà nhổ nhà đi cắm chỗ khác, nhổ nhổ cắm cắm cả chục lần ông cu Đo vẫn kiên quyết không bãi bỏ lệnh  Cấm con nít khóc sau chín giờ đêm… ha,tức cười chết được.

Mình cười hì hì, nói anh cu Đo còn sống không? Anh cu Tý nói còn, bây giờ già yếu hom hem, sống một mình vợ con không có, tội lắm. Mình nói chị Lê bỏ anh Cu Đo rồi à. Anh cu Tý cười, nói a thằng ni không biết à bay, bỏ nhau từ thời mi còn ở làng Đông mà. Chuyển nhà đến lần thứ năm thì chị Lê đâm đơn ly di, may hai người chưa có con bỏ để cũng nhẹ nhàng. Anh cu Tý bỗng vỗ vai mình đánh bốp, nói hay mi về làng Đông với tau một chuyến? Mi không về mau ông cu Đo chết rồi lại tiếc. Mình nghe bùi tai, đi liền.

Về làng Đông tất nhiên mình đến thăm anh Cu Đo. Ngôi nhà toang hoác, anh đang ngồi khóm róm ở ngạch cửa trông ra ngõ. Xưa anh to khỏe đẹp trai là thế, bây giờ sụm xuống hệt một cây chuối héo rũ rượi xơ xác. Mình chào anh, anh trố mắt nhìn, nói ai rứa hè. Mình xưng tên mình, tên ba mạ mình anh vẫn trố mắt nhìn rồi cười cái hậc, nói quên cha cả rồi còn mô, và lại ngồi im ngoảnh mặt trông ra ngõ.

Tuồng như không nhớ nhà đang có khách, anh cứ ngồi khóm róm trông ra ngõ, dáng như chó đói chờ ăn. Sau lưng anh có biển cấm to đùng treo trên vách: Cấm li dị.