Chủ Nhật, 1 tháng 6, 2014

“Mổ xẻ” sự lệ thuộc kinh tế từ bài toán năng lượng

Tô Văn Tường 
Đất nước muốn phát triển thì phải hợp tác để các bên đều có lợi nhưng muốn độc lập tự chủ thì không  thể phụ thuộc và bị chi phối về chính trị, kinh tế  và văn hóa bởi ngoại bang.


Chênh lệch số liệu báo cáo
Xét về phương diện kinh tế có thể nói Việt Nam lệ thuộc đáng kể vào kinh tế Trung Quốc hay nói cách khác Việt Nam chủ yếu chỉ có làm gia công để nhập hàng từ Trung Quốc. Hàng hóa nhập từ Trung Quốc  tăng mạnh vì phải nhập nguyên vật liệu cho sản xuất (phân bón, thức ăn gia súc, vải, kim chỉ, hóa chất, hàng điện tử) để phục vụ nông nghiệp và làm hàng sản xuất xuất khẩu cũng như máy móc và phụ tùng cho máy móc cho các nhà máy.
Xem xét số liệu năm 2012 là năm có đầy đủ số liệu của cả hai phía, ta thấy như sau:
Xuất nhập khẩu hàng hóa giữa VN và Trung Quốc, 2012, tỷ US


Báo cáo của VN
Báo cáo của TQ
Nhập từ TQ
$28.8
$34.0
Xuất sang TQ
$12.8
$16.2
Tỷ lệ nhập từ TQ so với tổng nhập
25.4%
30.0%
Tỷ lệ xuất sang TQ so với tổng xuất
11.2%
14.1%
Nguồn: Comtrade, UNSD
Số liệu trong bảng trên còn cho thấy: chỉ riêng  năm 2012, hàng Việt Nam nhập lậu từ Trung Quốc tới 5,2 tỷ U$, và xuất lậu sang Trung Quốc 3,4 tỷ U$. Như vậy, hàng năm ngân sách nhà nước đã bị thất thu tới 17% tiền thuế tương ứng của 8,6 tỷ U$ hàng lậu qua biên giới mà Hải quan Việt Nam không kiểm soát được (hay có kiểm soát được nhưng đã “bỏ túi” tiền thuế không khai báo này)!?.
Đặc biệt, trong lĩnh vực xuất khẩu khoáng sản từ Việt Nam sang Trung Quốc  chênh lệch số liệu giữa Hải quan Trung Quốc và Hải quan Việt Nam rất lớn. Số liệu của hải quan Trung Quốc tin cậy hơn và chính xác hơn (vì các doanh nghiệp nhập khẩu hay xuất khẩu đều khai báo đúng để hưởng chính sách khuyến khích của nhà nước Trung Quốc), còn số liệu của Hải quan Việt Nam thường thấp hơn nhiều (vì nhiều doanh nghiệp thường móc ngoặc với Hải quan để khai báo thấp xuống nhằm trốn  thuế). Thực trạng này đã diễn ra từ lâu và vẫn đang tiếp diễn.  Chỉ riêng trong lĩnh vực xuất khẩu than, hàng năm có tới 5-10 triệu tấn than được xuất lậu sang Trung Quốc  (số liệu công bố nhập của Trung Quốc bao giờ cũng cao hơn 5-10 triệu tấn /năm so với số liệu công bố xuất của TKV). Mỗi tấn than có giá thành bình quân là 60U$/tấn. Như vậy, chỉ riêng việc xuất lậu than đã làm thiệt hại cho Nhà nước 300-600 triệu U$/năm.
Năng lượng phụ thuộc vào Trung Quốc
Trước đây, 6 tỉnh phía Bắc phải mua điện của Trung Quốc, với giá cao hơn giá mua của các dự án điện trong nước và cũng cao hơn nhiều giá bán cho dân. Nhiều dự án đang và sắp triển khai do Trung Quốc thực hiện, EVN cũng đang yêu cầu các đơn vị báo cáo để thống kê lại.
Trong các năm gần đây, tình trạng chung trong lĩnh vực năng lượng điện là: TKV xuất khẩu than với giá rẻ cho Trung Quốc để Trung Quốc dùng than phát điện và bán điện đắt cho EVN.
Theo Ngân hàng thế giới (WB) năm 2014 Việt Nam có kế hoạch nhập khoảng 2,5 tỷ kwh từ Trung Quốc,  lượng điện nhập khẩu chiếm 2,6% so với tổng nhu cầu điện tiêu thụ ở trong nước.  Về giá trị quy ra tiền còn nhỏ so với ngay cả nhập quần áo phụ nữ nhưng  vấn đề ở  bài toán năng lượng không chỉ nhập điện mà nhiều dự án nhiệt điện do Trung Quốc đầu tư đã và đang triển khai  rộng khắp ở Việt Nam.
Lĩnh vực năng lượng nói chung và ngành điện lực nói riêng còn phụ thuộc khá nhiều vào Trung Quốc.  Đất nước Việt Nam còn nghèo, các chủ đầu tư cho ngành điện cũng nghèo. Các chủ đầu tư chỉ mong muốn bỏ tiền đầu tư ít nhưng đem lại lợi nhuận nhiều và hoàn vốn nhanh. Các dự án thủy điện vừa và nhỏ do các nhà đầu tư triển khai thường chọn thiết bị Trung Quốc cho rẻ tiền.
Các dự án nhiệt điện chạy than lớn của Việt Nam  cũng chủ yếu sử dụng thiết bị có nguồn gốc chế tạo tại Trung Quốc rẻ hơn nhiều so với thiết bị được chế tạo tại các nước G7/G8. Kể cả các thiết bị của các hãng của G7 (do G7 thiết kế nhưng được G7 tổ chức chế tạo tại Trung Quốc ) thì chất lượng cũng rất thấp do Tiêu chuẩn chế tạo của Trung Quốc rất thấp. Vì vậy, mặc dù vốn đầu tư (mua sắm thiết bị) có giảm, nhưng chi phí vận hành và chi phí sửa chữa cũng rất cao. Kết quả cuối cùng thì hiệu quả của các dự án điện sử dụng thiết bị chế tạo tại Trung Quốc còn thấp hơn so với các dự án dùng thiết bị “xịn” của G7.
Thiết nghĩ một ngày đẹp trời nào đó Trung Quốc "nghỉ chơi" với Việt Nam thì có thể các thiết bị Trung Quốc trong hệ thống điện đồng loạt ngừng hoạt động (máy tính laptop Trung Quốc còn gài chip thì thiết bị điện có ai đảm bảo rằng họ không gài chip vào hệ thống điều khiển chính?) thì Việt Nam sẽ thiếu điện trầm trọng. Phụ tùng thủy điện ta có thể chế tạo được nhưng nhiệt điện thì phức tạp hơn nhiều và cũng nhiều loại khác nhau.
Những năm gần đây, Trung Quốc đã viện trợ ở hầu khắp các ngành công nghiệp, năng lượng của Việt Nam, vốn vay ưu đãi lãi suất thấp từ Trung Quốc đang đóng vai trò rất quan trọng, chủ yếu là từ đầu mối Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc (China Eximbank). Đơn cử như  ở ngành điện, tính đến năm 2011, trong tổng số 9 dự án nhiệt điện do Tập đoàn Than - Khoáng sản làm chủ đầu tư, hiện có 4 dự án vay vốn tín dụng xuất khẩu hoặc ODA của Trung Quốc.  Trung bình mỗi dự án điện công suất 300MW trở lên của Việt Nam có tổng vốn đầu tư trên 500 triệu USD.  Nếu dự án vay từ China Eximbank thì nguồn vốn này thường chiếm khoảng 85% tổng vốn đầu tư. Như vậy, ước tính, tổng vốn vay của Trung Quốc chỉ riêng cho ngành điện Việt Nam đã là con số hàng tỷ USD. Ví dụ như các dự án nhiệt điện Cao Ngạn, Sơn Động, Cẩm Phả, Mạo Khê đều chủ yếu vay tín dụng xuất khẩu của ngân hàng China Eximbank. Dự án có tổng vốn đầu tư ít nhất cũng hơn 3.500 tỷ đồng vv...
Chiến lược đầu tư “lắc léo” của Trung Quốc
Với chiến lược của các nhà thầu Trung Quốc là giá. Họ trúng thầu tương đối nhiều . Việc lập hồ sơ mời thầu của các kỹ sư Việt Nam chưa chuyên nghiệp, còn non, chưa ràng buộc được mọi tình huống nên dễ bị nhà thầu chuyên nghiệp "xỏ mũi".
Trong khi đó, các nhà thầu Trung Quốc  khi tham gia dự thầu, ban đầu trong Hồ sơ dự thầu họ thường chấp nhận tất cả các vấn đề nêu trong Hồ sơ mời thầu của Việt Nam nhưng sau khi đã được chấp nhận trúng thầu, các nhà thầu Trung Quốc chỉ thực hiện theo ý mình, ép chủ đầu tư phải chấp nhận những “tiêu chuẩn” chất lượng của họ (thường thấp hơn và rẻ tiền hơn so với thiết kế của chủ đầu tư nêu trong Hồ sơ mời thầu). Ở các dự án nhiệt điện Hải Phòng hay nhiệt điện Quảng Ninh (của EVN), khi phát hiện nhà thầu Trung Quốc đưa sang các thiết bị/vật tư kém chất lượng, không đúng thiết kế, chủ đầu tư không cho lắp nhưng nhà thầu cứ lắp, thậm chí nhà thầu còn không cho chủ đầu tư được vào kiểm tra trong hàng rào nhà máy, hay lắp vào lúc chủ đầu tư “ngủ”!.  
Hơn nữa, theo dư luận thì nhà thầu Trung Quốc đi "cửa sau" rất giỏi và rất chuyên nghiệp. Đến khi dự án đi vào triển khai, chủ đầu tư Việt Nam sẽ phải chấp nhận các thiết bị kém chất lượng, với duy nhất 1 tờ giấy với tiêu đề  “QUALITY CERTIFICATE”, gọi là phiếu chất lượng để “che mặt’! 
Trung Quốc là chủ thầu gần 10 dự án nhiệt điện chạy than của ta, với cam kết vay ODA lãi xuất thấp. Tuy nhiên, sau đó lại điều chỉnh nâng giá và đặc biệt là chất lượng thấp và không đảm bảo tiến độ. Việc cắt các dự án nhiệt điện chạy than của Trung Quốc chắc sẽ gây thiếu  điện cho một số ngành sản xuất. Vì vậy, ta phải cố bù một phần bằng cách đẩy nhanh tiến độ các dự án nhiệt điện chạy khí, phải đẩy mạnh chương trình tiết kiệm năng lượng và giảm thiểu tiêu dùng.
Việc sử dụng ODA của Trung Quốc có nhiều rủi ro vì chủ đầu tư không kiểm soát được tỷ giá của đồng nhân dân tệ so với U$, không kiểm soát được việc thanh toán theo tiến độ (thường phía Trung Quốc yêu cầu ngân hàng Trung Quốc thanh toán ngay khi đưa thiết bị sang, bất chấp thiết bị đó có được chủ đầu tư chấp nhận hay không), không phạt được nhà thầu nếu nhà thầu vi phạm (về chất lượng và về tiến độ), và cuối cùng, do sử dụng ODA của Trung Quốc nên nhà thầu thường đưa ra yêu sách là phải làm theo cách của Trung Quốc (bất chấp Hồ sơ mời thầu và thiết kế của chủ đầu tư).
Thay cho lời kết
Để giảm dần sự lệ thuộc năng lượng từ Trung Quốc về thiết bị điện cần có kế hoạch chủ động tìm các đối tác khác thay thế. Về cơ bản, cần xây dựng Luật Đấu thầu và các nghị định hướng dẫn thực hiện Luật đấu thầu đủ mạnh, chặt chẽ để có thể loại các nhà thầu Trung Quốc bỏ thầu giá rẻ, kém chất lượng, hậu quả đã nhãn tiền. Cần xây dựng thể chế cạnh tranh lành mạnh  về nguồn điện, tránh độc quyền.
Sự lệ thuộc kinh tế của Việt Nam với Trung Quốc không còn phải bàn cãi nhất là về chất lượng hàng hóa mà Việt Nam nhập từ Trung Quốc cũng như các hợp đồng thầu dự án mà Trung Quốc nhận từ Việt Nam với những "lắc léo" thấy rõ lợi bất cập hại. Do đó, việc thoát khỏi quỹ đạo của Trung Quốc lúc nầy là cơ hội để nền kinh tế Việt Nam phát triển đúng đường, đúng hướng, song hành với việc độc lập, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của tổ quốc Việt Nam.  
Tác giả gửi Quê Choa
Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả



Trung Cộng: Độc Cô Cầu Bại trên Biển Đông ?

 Liêm Nguyễn lược dịch theo TheEconomist 
Ảnh bên:Qua những tranh chấp hiện nay ở biển Đông, Trung cộng lộ nguyên hình là kẻ võ biền ngang ngược, muốn làm gì tuỳ thích mà không ai có thể ngăn cản được.

Trong những tuần gần đây, các động thái của Trung cộng ở biển Đông đã cho thấy nước này không điếm xỉa gì đến phản ứng của các quốc gia láng giềng.


Xa về phía Bắc ở khu vực nằm gần quần đảo Hoàng sa đang tranh chấp với Việt Nam, Trung cộng kéo một giàn khoan khổng lồ, được bảo vệ bởi một đội tàu hùng hậu, vào sâu trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) [được công nhận bởi luật biển quốc tế] của Việt Nam. Sự giận dữ ở Việt Nam trước động thái này đã châm ngòi cho các cuộc bạo động mà trong đó hàng trăm công ty đã bị hôi của và đốt phá cộng thêm sáu người Tàu bị chết. Trung cộng đã di tản hàng ngàn công nhân và yêu cầu chính phủ Việt Nam phải bồi thường. Thực tế là chỉ có vài công ty trong số bị nạn là của Trung cộng, phần lớn là các công ty của Đài Loan. Bởi vậy những cuộc bạo động này đã làm xấu đi hình ảnh của Việt Nam và dường như cho thấy những nguyên nhân bên trong phức tạp hơn chứ không đơn thuần là tinh thần yêu nước trước kẻ thù truyền kiếp.

Đi về phía Nam trong quần đảo Trường sa, những hình ảnh chụp được gần đây cho thấy Trung cộng cũng đang xây dựng những kiến trúc đảo nhân tạo gần đảo Gạc Ma. Các nhà phân tích cho rằng Trung cộng đang xây dựng ở đó một đường băng cho phi cơ. Philippines đã phản đối vì cho rằng rặng san hô này nằm trong EEZ của mình. Rõ ràng là Trung cộng đang làm ngược lại một tuyên bố ký vào năm 2002 giữa nước này vói mười thành viên của ASIAN trong đó kêu gọi các quốc gia không tiến hành các hoạt động xây cất tại các đảo tranh chấp.

Có lẽ tệ hại hơn hết là giờ đây Trung cộng không thèm giải thích những đòi hỏi của mình. Ví dụ như trong vụ giàn khoan, không ai rõ lập luận của các lãnh đạo Trung cộng là gì, liệu có phải vì họ xem vị trí đặt giàn khoan là thuộc EEZ tính từ đảo Hải Nam, hay họ dựa vào quần đảo Hoàng sa chiếm được từ miền Nam Việt Nam vào năm 1974, hay họ dựa vào “đường chín đoạn”, một cái lưỡi bò thè ra để liếm trọn biển Đông mà Trung cộng đòi hỏi dựa trên “chủ quyền lịch sử”. Bản thân đường chín đoạn đã rất mập mờ. Một vài học giả Trung cộng cho rằng có lẽ nó bao hàm một yêu sách chủ quyền lên tất cả các hòn đảo nằm bên trong cái lưỡi bò đó, một cách hiểu mà về lý thuyết có thể ăn khớp với luật biển. Nhưng ngay cả các học giả này cũng không thể khẳng định là đường chín đoạn không bao hàm đòi hỏi chủ quyền trong toàn bộ vùng biển nằm giới hạn bên trong. 

Mặc cho những sự trái khoáy này của Trung cộng, tổng thống Aquino vẫn kiềm chế và có vẻ chấp nhận hiện thực. Ông nói: “Họ là 1.3 tỉ người trong khi chúng tôi chỉ là 98 triệu”. Cách thể hiện này lặp lại lời lẽ của một ngoại trưởng Trung cộng khi nhắc nhở các nước ASIAN vào năm 2010 “Trung quốc là một nước lớn, và các nước khác là những nước nhỏ, và đó là thực tế”. Một đánh giá nghiêm túc gần đây chỉ ra rằng cả ba cách tiếp cận mà Philippines đang sử dụng để đối kháng với sự xâm lấn của Trung cộng có rất ít cơ hội  thành công, ngoại trừ một điều chắc chắn lả chúng làm cho Trung cộng khó chịu.

Cách tiếp cận đầu tiên là sử dụng các phương tiện luật pháp. Philippines gần đây đã kiện các đòi hỏi chủ quyền của Trung cộng ra một toà án quốc tế về luật biển. Quá trình này sẽ mất hàng tháng, nhưng không chắc là toà sẽn chấp nhận xử, và ngay cả khi toà chấp nhận xử, cũng không chắc rằng các phán xét sẽ có lợi cho Philippines. Và thậm chí ngay cả khi Philippines được toà xử thắng kiện, cũng không có phương cách nào để buộc Trung cộng tuân theo phán xét của toà. Bị tổn thất tính chính danh do phán xét của toà sẽ chỉ làm cho Trung cộng thêm cứng rắn với Aquino và chính phủ của ông.

Cách tiếp cận thứ hai là tạo ra một liên minh chống lại sự bành trướng trên biển của Trung cộng. Ông Aquino đã so sánh chủ nghĩa bành trướng từng bước của Trung cộng với kiểu đe doạ của Phát Xít Đức vào những năm 1930. Aquino nói ông rất hài lòng là bản tuyên bố chung của ASIAN vào tháng này đã thể hiện một cách mạnh mẽ sự lo ngại với những diễn biến gần đây ở biển Đông. Thực tế là, hy vọng của Việt Nam và Philippines về một bản tuyên bố chung điểm mặt Trung cộng là kẻ gây ra những quan ngại đó đã không thành. Những biến cố này có lẽ đã thúc đẩy Philippines và Indonesia trong tuần qua ra tuyên bố về sự đồng thuận giữa hai nước về biên giới trên biển sau hai thập kỷ đàm phán. Nhưng mặc dù đường chín đoạn của Trung cộng xâm lấn vào EEZ của Indonesia, quốc gia này không có đòi hỏi chủ quyền nào trong vùng biển. Đạt được một sự đồng thuận với các bên tranh chấp khác dường như là không khả thi. Ví dụ một trong các bên tranh chấp, Việt Nam, hiện cũng đang đòi hỏi chủ quyền trên toàn bộ quần đảo Trường sa, và vào năm 1988 đã có 70 lính Viêt Nam bị giết trong một cuộc giao tranh ngắn với Trung cộng tại đảo Gạc ma.

Cách tiếp cận thứ ba là kêu gọi sự bảo vệ từ đồng minh Hoa Kỳ. Tháng trước khi Barack Obama đến thăm châu Á, Hoa Kỳ và Philippines đã ký một hiệp định tăng cường an ninh giữa hai nước. Nhưng Hoa Kỳ cũng đồng thời tuyên bố là sẽ không đứng về bên nào trong các tranh cãi ở biển Đông. Chắc chắn một điều là Hoa Kỳ sẽ không muốn gây chiến với Trung cộng chỉ vì những bãi ngầm và rặng san hô mà Philippines đòi chủ quyền, đừng nói chi đến Việt Nam, quốc gia hiện không có hiệp ước đồng minh với Hoa Kỳ.

Sống chung với bão

Vậy chì chỉ còn hai khả năng giúp Philippines đương đầu với Trung cộng, hoặc ít nhất cũng làm giảm thiểu những mất mát. Một là tiến tới xây dựng một Bộ Qui Tắc Ứng Xử (Code of Conduct - COC) mang tính ràng buộc để thay thế cho Bản Tuyên Bố Ứng Xử (Declarations of Conduct - DOC) ký từ năm 2002, trong đó các quốc gia có chủ quyền chồng lắp (cộng thêm Brunei, Malaysia và Đài Loan) đồng ý sẽ tránh gây thêm những khiêu khích như những gì xảy ra trong tháng rồi. Về lý thuyết, một Bộ Qui Tắc như vậy đang được thương thuyết, mặc dù không có chỉ dấu cho thấy Trung cộng mong muốn tiến tới một sự đồng thuận. Khả năng thứ hai dựa vào hy vọng là Trung cộng sẽ nhận ra, theo đúng cách dùng từ của Aquino, là “khả năng nước này [Trung quốc] tiếp tục tăng trưởng phụ thuộc vào thiện chí của phần còn lại của thế giới” - có nghĩa là Trung cộng nên tự kiềm chế. Thực tế cho thấy những hung hăng gần đây của Trung cộng đã không dẫn tới những thiệt hại kinh tế đáng kể cho nước này, vì thế sẽ ít có khả năng là Trung cộng sẽ tự thay đổi. Từ thực tế của Nhật sau thế chiến thứ hai, sự sợ hãi và căm giận không nhất thiết là điều tệ hại cho phát triển kinh tế.

Người dịch gửi Quê Choa

“Công dân Nguyễn Đức Kiên có bị phân biệt đối xử?”

Hoàng Điệp
Trong phần đối đáp kéo dài chừng 120 phút, bị cáo Nguyễn Đức Kiên đặt câu hỏi: Công dân Nguyễn Đức Kiên có bị phân biệt đối xử không?

Trong bài tự bào chữa kéo dài gần 120 phút, nhiều lần bị cáo Nguyễn Đức Kiên (phó chủ tịch hội đồng sáng lập Ngân hàng Á Châu) đặt câu hỏi: “Viện kiểm sát (VKS) buộc tội tôi thì phải chỉ rõ cho tôi thấy tôi bị buộc tội ở khoản nào, điều mấy? Còn nếu không đủ căn cứ buộc tội tôi thì đề nghị hội đồng xét xử tuyên tôi vô tội”.


Căn cứ mà bị cáo này đặt ra đối với VKS cũng là đặt ra với hội đồng xét xử bởi những cáo buộc từ VKS, cho rằng trong bốn tội bị cáo buộc thì Nguyễn Đức Kiên là người cầm đầu, chủ mưu, chỉ đạo tất cả nhưng VKS và cơ quan điều tra đã không đưa ra văn bản nào thể hiện việc chỉ đạo đó mà chỉ căn cứ vào một số lời khai của một số bị cáo khác bàn đến nhưng không phải trong các cuộc họp. 

Nói như bị cáo Lý Xuân Hải (nguyên tổng giám đốc Ngân hàng Á Châu), đó là “nói đến trong lúc trà dư tửu hậu” cũng giống như hàng trăm ngàn câu chuyện được bàn, được tán gẫu trong khoảng thời gian lúc ăn sáng, khi thảnh thơi.

VKS cũng cáo buộc bị cáo này kinh doanh trái phép chứng khoán, mua cổ phần cổ phiếu không đúng trên giấy đăng ký kinh doanh, trong khi luật sư bào chữa cho bị cáo Kiên đưa ra bằng chứng là trong hàng trăm ngàn doanh nghiệp và người dân nhiều năm qua vẫn mua bán cổ phần cổ phiếu mà chưa một doanh nghiệp nào được cấp giấy đăng ký kinh doanh ngành nghề này.

Và trong phần tranh luận với đại diện VKS, trong phần đối đáp cũng kéo dài chừng 120 phút, bị cáo Nguyễn Đức Kiên lại đặt thêm một câu hỏi khác: Công dân Nguyễn Đức Kiên có bị phân biệt đối xử không? Minh chứng cho câu hỏi này, ông Kiên nói mình đã tuân thủ pháp luật Việt Nam và thực hiện mọi nghĩa vụ đối với Nhà nước. 

Sở dĩ ông Kiên đặt ra câu hỏi đó bởi vì có hàng ngàn người đang kinh doanh cổ phần, cổ phiếu giống như ông Kiên, họ cũng góp vốn và đầu tư giống như ông Kiên, họ cũng ký hợp đồng ủy thác giống công ty mà ông Kiên đại diện pháp luật nhưng chỉ một mình ông Kiên bị khởi tố vì tội kinh doanh trái phép, trốn thuế và cố ý làm trái quy định của Nhà nước.

Bị cáo Kiên lý luận rằng trong cùng một điều luật, một nền tư pháp nhưng chỉ một mình ông bị phân biệt đối xử, trong khi mọi công dân đều được bình đẳng trước pháp luật.

Bị cáo này cũng cho rằng nếu không phải VKS đang phân biệt đối xử với ông thì hàng ngàn cá nhân, doanh nghiệp khác đang đứng trước nguy cơ bị khởi tố, còn các cá nhân đảm nhiệm các chức vụ trong các cơ quan chức năng sẽ phải đứng trước nguy cơ bị cáo buộc về hành vi thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng bởi đã không ban hành kịp thời các văn bản luật để hướng dẫn các doanh nghiệp.

Luật sư Trương Thanh Đức - một chuyên gia trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, người đã được mời tham gia thẩm định nhiều bộ luật trong lĩnh vực này - khi bảo vệ quyền lợi cho Ngân hàng Á Châu đã mạnh dạn kiến nghị: “Đề nghị hội đồng xét xử kiến nghị với các cơ quan lập pháp và hành pháp xem xét lại việc xây dựng, giải thích và áp dụng pháp luật để tránh gây ra sự hoang mang, lo ngại, khốn khổ, nguy hiểm, oan ức cho các doanh nghiệp và cá nhân, khi họ không thể biết phải làm thế nào thì mới an toàn pháp lý; lăn lộn vất vả kinh doanh, nộp thuế cho Nhà nước nhưng không thể biết khi nào thì vi phạm, tù tội."

"Bộ, ngành soạn thảo và thực thi Luật doanh nghiệp và Luật các tổ chức tín dụng đã tạo ra sự tù mù, hiểu thế nào cũng được, thậm chí chính mình cũng không hiểu và hiểu sai, làm sai, giải thích sai luật. Như thế thì khác nào đánh bẫy doanh nghiệp, treo thòng lọng trước mọi cá nhân” - Ông Đức nói. 

Còn một phóng viên theo dõi phiên tòa đã lấy một ví dụ đơn giản hơn rất nhiều: hành vi kinh doanh trái phép, cố ý làm trái... trong vụ án này, giống như Nhà nước làm một con đường nhưng không làm vạch, không đặt cột đèn tín hiệu, không phân làn, không phân chia vỉa hè lòng đường và cũng không có biển cấm nên người dân tự do đi lại.

Nhưng một ngày cảnh sát giao thông lại bắt một người trong số cả trăm người đang đi trên đường và nói rằng vi phạm do chưa có hướng dẫn.

Chính khách lớn liệu có quyền trơ trẽn?



Tạ Duy Anh 
Không ai nghi ngờ ông Tập Cận Bình, người đứng đầu một cường quốc, không phải là một chính khách lớn. Dám nghĩ tới một “Giấc mơ Trung Hoa” đề cao sức mạnh cơ bắp, dù nghe có vẻ hài hước và kệch cỡm khi đặt cạnh “Giấc mơ Mỹ”, nhưng không là người đủ tự tin vào vai trò chính khách lớn của mình, chắc sẽ không dám nói như vậy. 


Mặc dù với người viết bài này, ông Tập đang là kẻ xâm lược cần phải bị xua đuổi không khách khí, nhưng thành thực mà nói, rất khó ngăn tôi mong muốn đất nước mình cũng có một chính khách tầm cỡ như ông về sự quyết đoán, để dẫn dắt dân tộc thoát khỏi vùng tối tăm ngàn đời (và vĩnh viễn) tạo ra bởi cái bóng Trung Hoa khổng lồ. Vì là một chính khách mạnh mẽ nên ông rất biết tận dụng thiên hạ đại loạn để thủ lợi cho dân tộc Trung Hoa của ông, như vụ chớp nhoáng đưa giàn khoan HD- 981 vào vùng biển của Việt Nam hôm mồng 2-5 vừa qua rồi lớn tiếng bảo đó là của mình? Phải tự tin về quyền lực cỡ nào Tập tiên sinh mới đàn áp thẳng tay những người dân vốn bị coi là “nhung, địch” dám đòi hỏi quyền tự trị nhiều hơn với nhà Hán? 

Tuy đang trên đà thành cường quốc, nhưng chưa bao giờ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đứng trước nguy cơ nội loạn như thời kỳ sắp tới, không chỉ vì vấn đề sắc tộc. Tăng trưởng kinh tế, thu nhập cao tính theo đầu người, quân đội, cảnh sát hùng mạnh, vẫn không đảm bảo chắc chắn cho sự ổn định của một chế độ kiểu như của Trung Quốc. Những gì xảy ra ở Bắc Phi, nơi nhiều nước có thu nhập cao gấp đôi, gấp ba Trung Quốc, tự do, dù bị hạn chế, cũng vẫn nhiều gấp vài lần Trung Quốc, hẳn ông Tập hiểu rất rõ. Chỉ cần tăng trưởng GDP của nước ông tụt xuống mức 5 %, là hàng chục triệu người dân Trung Quốc sẽ mất việc và họ sẽ làm loạn. Đó là cái giá phải trả dành cho kẻ nào muốn leo thật cao bằng cách dùng rác tạo ra trái núi rồi tót lên đỉnh, cốt chỉ để thỏa mãn cảm giác được ngồi trên đầu thiên hạ. Chỉ cần một vài cuộc biểu tình là Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông… vùng dậy tìm cách thoát ách kìm kẹp của người Hán vốn tôn thờ chính trị bá đạo.

Vì là chính khách tầm cỡ thế giới, nên ông tường tận tất cả những nguy cơ quốc nội đó. Nếu điều này ông chưa biết, thì tôi sẽ nói cho ông biết nốt: Giả dụ một quả tên lửa bắn vào Hà Nội, thì người dân Việt sẽ đổ về các vùng biên ải với mọi loại vũ khí; trong khi một quả tên lửa rơi xuống Bắc Kinh hay Thượng Hải, người dân Trung Quốc sẽ đổ xô tìm nơi thoát thân ở vùng Tây Tạng hoặc tìm trước từ ngữ lo xa cho một văn kiện đầu hàng. Chúng ta, ông và tôi, dù có muốn (bằng hành động như ông và bằng ý nghĩ như tôi) thay đổi cái thiên tính ấy của dân tộc mình cũng đành bó tay thôi.

Nhưng đó là chuyện nhỏ, so với những hiểu biết chính trị của ông. Vì thế tôi vẫn đủ cơ sở để tin ông là một chính khách lớn, với những gì đã nói ở trên. 

Thế mà ông vừa khiến cái nhận định đó của tôi bị lung lay. Cả thế giới phẳng này biết điều gì nguy hiểm đang ngày ngày diễn ra trên biển Đông, mà nguyên nhân là do cuộc xâm lược ngạo mạn của Trung Quốc, vào lãnh hải của Việt Nam. Thế mà trong cuộc hội đàm với ngài Thủ tướng Malaysia Najib Razak, người đến Bắc Kinh với tâm lý chưa trả xong món nợ MH-370 nên phải cố gắng dĩ hòa vi quý, nói những lời xã giao làm vui lòng chủ nhà, ngài chủ tịch nước Trung Hoa, một chính khách lớn, lại tuyên bố ráo hoảnh: “Tình hình biển Nam Trung Hoa (biển Đông) vẫn yên bình?”

Người Việt định danh hành động kiểu như vậy bằng cặp từ trơ trẽn.

Một chính khách lớn liệu có quyền trơ trẽn? Tôi không tự trả lời được câu hỏi này, vì tôi không phải là một chính khách, đành chuyển nhờ Tập Xếnh Xáng trả lời giúp. Nhưng tôi có thể giải thích giúp ông từ trơ trẽn hiểu theo nghĩa thông dụng của người Việt như sau: Ám chỉ kẻ nào làm điều xấu xa, bỉ ổi (như trộm cắp, nói dối, lừa đảo…) nhưng không biết xấu hổ, mà cứ nhơn nhơn nói những lời nhân nghĩa, ngay thẳng trước bàn dân thiên hạ. Với họ, một kẻ trơ trẽn chỉ đáng coi thường, thương hại mà tuyệt nhiên không đáng sợ.
TDA

Tác giả gửi Quê Choa

Đây, sự "yên bình" của ông Tập Cận Bình 
..................................