Thứ Sáu, 11 tháng 4, 2014

Thử lý giải những sai sót để đời của Nhà biên soạn từ điển-GS Nguyễn Lân - kỳ 7

Hoàng Tuấn Công

Xem Kỳ 1- Phương pháp luận  
 Xem Kỳ 2:Thiếu kiến thức cơ sở ngôn ngữ học
Xem Kỳ 3: Lỗ hổng kiến thức Hán Nôm
Xem Kỳ 4: Kiến văn và tra cứu


 
Kỳ 7: Một đời chính tả, học sai nên hành sai -(Phần I)

Đất anh hùng có huyền thoại anh hùng. Người thông minh có giai thoại thông minh. Kẻ ngốc ngếch có giai thoại ngốc ngếch... Giáo sư Nguyễn Lân nổi tiếng là người yêu đến “say mê tiếng mẹ đẻ”(1) (Thứ tiếng chúng tôi đã nói đến trong Kỳ 6-Tiếng mẹ đẻ). GS còn là một “huyền thoại” về chính tả và ý thức chính tả.

Giai thoại “Chớ vào hầm chú ẩn” kể về GS Nguyễn Lân, được nhiều người cầm bút khai thác dưới nhiều dị bản:
-"Hồi đó, giặc Mỹ đang đánh phá miền Bắc. Một hôm có báo động, GS Nguyễn Lân ra hầm theo mũi tên chỉ, nhưng ở mũi tên, ai đó lại viết sai chính tả: “hầm chú ẩn” chứ không phải là “hầm trú ẩn”. Ông thấy như bị ai đó xúc phạm và kiên quyết không chịu vào hầm! Rồi nữa, có lần, ông cần đi vệ sinh, nhưng ở cửa lại ghi “nhà vệ xinh”, thế là Giáo sư cũng… không vào ! Có thể đó chỉ là những câu chuyện ai  đó thêu dệt vì quý mến ông, nhưng đã phần nào nói được tấm lòng của nhà giáo Nguyễn Lân đối với việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt mà ông trọn đời tâm huyết”. (Trọn đời vì sự nghiệp trồng người- BáoCông an nhân dân)
- “Lâu nay mọi người vẫn nghe lưu truyền câu chuyện trong chiến tranh giáo sư Nguyễn Lân không chịu vào hầm dù máy bay Mỹ đã tới trên đầu, chỉ vì ngoài cửa đề chữ: Hầm “chú ẩn”. Hoặc từ chối vào “nhà vệ xinh” khi “nhu cầu đã rất cấp thiết”. Đó là những giai thoại nhưng nó cũng phần nào nói lên được sự đam mê và tấm lòng của nhà giáo Nguyễn Lân với tiếng Việt”(GS Nguyễn Lân qua ký ức những người con - Báo Quân đội nhân dân). 
 -“Sự quan tâm của GS Nguyễn Lân đến chính tả đạt đến mức mà có người, do mến yêu cụ, đã sáng tác ra một bức tranh hài hước trên một tờ báo tường. Bức tranh tả cảnh Hà Nội đang có báo động, máy bay Mỹ đã bay vào bầu trời Hà Nội, loa truyền thanh đang thúc giục mọi người nhanh chóng vào hầm trú ẩn nhưng cụ Lân, tuy đã đứng trước cửa hầm vẫn chưa chịu vào hầm để phản ứng trước việc ai đó đã viết sai chính tả trên một tấm biển chỉ đường ra hầm trú ẩn là: Hầm chú ẩn”.(GS Nguyễn Lân và “tư cách một người dân yêu nước" - Báo Tiền phong:).
 Nhà thơ Trần Đăng Khoa chưa đầy mười tuổi đã biết vắt óc “thôi xao”, sành ngôn từ mẹ đẻ đến thành “Thần”. Có lẽ bởi vậy mà với “Người thường gặp” GS Nguyễn Lân, góc nhìn thú vị về “Vua chính tả” đã được Trần Đăng Khoa khai thác triệt để. Không những thế. Dưới ngòi bút tài hoa và cái duyên kể chuyện hiếm thấy của một Nhà thơ, giai thoại về người luôn nổi giận với những ai viết sai chính tả tiếp tục được “thêu hoa, dệt gấm” thật ly kỳ. Chúng tôi cho đây là dị bản hay nhất: “Ông không tiếc sức mình trong việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Thấy ai nói ngọng, hoặc viết sai tiếng Việt là ông đau đớn lắm, bứt rứt lắm....Ví như có lần, người ta mời Giáo sư Nguyễn Lân đến dự một bữa tiệc linh đình. Mọi người đã ngồi vào bàn. Rượu đã rót ra cốc. Nhưng rồi Giáo sư Nguyễn Lân thấy chén rượu đắng ngắt khi nhìn thấy trên tường có một dòng khẩu hiệu viết sai đến mấy lỗi chính tả. Thế là ông đùng đùng bỏ tiệc ra về. Ông không còn bụng dạ nào ăn nổi bữa tiệc ấy . Rồi lại một lần khác nữa, lần này còn ác chiến hơn. Máy bay Mỹ nhào tới. Bom nổ dữ dội. Giáo sư Nguyễn Lân chạy ra căn hầm công cộng của khu phố, thấy trên nóc hầm lô lố một dòng chữ cũng lại viết sai chính tả: Hầm chú ẩn. Ông đâu có phải là chú. Thế là ông nhất quyết không chịu xuống hầm, mặc cho bom nổ xung quanh...”(Người thường gặp-Giáo sư Nguyễn Lân-Trần Đăng Khoa)
Giai thoại hay thần thoại cũng thường dựa trên sự thật, có cốt lõi của sự thật. Giai thoại về "Vua chính tả” Việt Nam dĩ nhiên cũng có cơ sở, ngọn nguồn của nó. Trong "Đôi lời tâm sự thay lời tựa" của “Từ điển từ và ngữ Việt Nam”, GS Nguyễn Lân bức xúc: “Gần đây, tôi nhận thấy trong sách báo và cả trên đài tiếng nói Việt Nam, đồng bào dùng sai nhiều từ, nhất là những từ Hán Việt...Mặt khác, trong các sách báo, lỗi chính tả tràn lan, rất ảnh hưởng tới sự trong sáng của tiếng Việt”. GS Nguyễn Lân còn là tác giả của các sách “Muốn đúng chính tả”; “Tôi yêu tiếng Việt”; đồng tác giả của “Từ điển chính tả phổ thông”; “Viết thế nào cho đúng”...tổng cộng tới 10 cuốn từ điển liên quan tới tiếng Việt. Lúc nào GS cũng đau đáu "vì sự trong sáng của tiếng Việt". Ở tuổi 90 Giáo sư vẫn còn "suốt ngày viết viết, xóa xóa” để “tạo ra một tác phẩm rất có giá trị mà cả xã hội mong đợi” (Lời giới thiệu Từ điển từ và ngữ Việt Nam-GS Vũ Khiêu). Điều này lý giải tại sao Giáo sư Nguyễn Đình Chú cũng đã suy tôn "GS Nguyễn Lân là Nhà biên soạn từ điển vô địch"(5) Đó chính là cốt lõi, là sự thật của giai thoại về một người thà "nhịn đói", "nhịn đau" hay “tử" vì chính tả !
Chúng ta cảm ơn "cha đẻ" của những giai thoại. Họ chính là hiện thân của dân gian: thông minh-tốt bụng-công bằng và hài hước. Dân gian ưa nói thẳng, nói thật. Nhưng họ cũng chính là bậc thầy nói ngược, “nghịch ngầm”. “Nói zậy mà hổng phải zậy” !

Khi đăng bài “Từ điển từ và ngữ Việt Nam của GS Nguyễn Lân-mục chữ cái nào cũng có sai sót”, (xem trênTuấn Công Thư Phòng) chúng tôi có nhắc đến một số lỗi chính tả của GS. Một bạn đọc hồi đáp, “thử lý giải” hộ chúng tôi: “Phải chăng GS Nguyễn Lân có dấu hiệu của tuổi già ?” Vâng ! Quả thật, với “Từ điển từ và ngữ Việt Nam” (GS chuẩn bị 50 năm, hoàn thành trong 5 năm ở độ tuổi 90) bạn đọc cần khách quan để không loại trừ nguyên nhân này. Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể chủ quan loại trừ bằng một cách khác. Đó là tìm đến một cuốn sách chuyên chính tả hơn, lại được Giáo sư viết ở độ tuổi 40. Cuốn “Muốn đúng chính tả”.

Trong thư mục Cùng một tác giả, sách “Muốn đúng chính tả” (xuất bản lần đầu 1949-NXB Thịnh Đức-Chiến Khu 10) được GS Nguyễn Lân xếp vào loại “Từ điển chính tả”. Sách được NXB Văn hóa thông tinxuất bản vào các năm 2010 và 2012. Chúng tôi có trong tay cả hai bản này. Điều đáng chú ý, trước khi viết “Muốn đúng chính tả”, Nguyễn Lân đã là “GS của ba trường đại học ở Huế: Quốc Học, Đồng Khánh, Bách Công”; từng làm “Giám đốc giáo dục Liên khu 10 và Liên khu Việt Bắc”; từng xuất bản 4 cuốn tiểu thuyết và hai đầu sách khảo cứu. Như thế, GS viết “Muốn đúng chính tả” ở độ tuổi trí tuệ đang nở rộ và tinh thần minh mẫn nhất của một đời người. Của chính Giáo sư !
Các cụ nhà ta dạy: "Nói có sách, mách có chứng". Cái "chứng" sai chính tả đang bò lổm ngổm trong "rừng từ" của Giáo sư Nguyễn Lân. Ta không quá khó để nhận ra chúng. Tuy nhiên, chính tả tiếng Việt là vấn đề phức tạp. Đôi khi “Sư nói sư phải, vãi nói vãi hay”. Thế nhưng, dù còn có những bất đồng, nhưng chính tả tiếng Việt không phải không tìm được cái “chính” đồng thuận.
Khi viết, người ta có quyền chọn từ nào đó mình ưa dùng, kể cả từ “tối cổ”. Hiểu đến đâu phụ thuộc vào trình độ người đọc. Nhưng với chính tả, người viết lại luôn có xu hướng và cố gắng nương theo chuẩn chính tả hiện hành, được số đông thừa nhận. Cuốn “Muốn đúng chính tả” chúng tôi có trong tay xuất bản 2012. Bởi vậy, trước tiên chúng tôi sẽ căn cứ vào các sách Từ điển tiếng Việt, Từ điển chính tả hiện đại để so sánh. Mặt khác, chúng tôi cũng căn cứ theo số đông. Tức cách nói, cách viết phổ thông của sách giáo khoa giảng dạy trong nhà trường, trong đời sống cũng như sách báo hàng ngày để đi đến sự thống nhất, đồng thuận. Ngoài ra, để bổ sung thêm chứng cứ, chúng tôi cũng dẫn thêm các cuốn từ điển như: “Từ điển Việt-Bồ-La”, "Đại Nam quấc âm tự vị" "Việt Nam tự điển" (đều xuất bản trước 1945). Qua đó, ta có thể biết cha ông ta vốn có nói và viết như GS Nguyễn Lân không. Đối với những chữ còn tồn tại hai cách viết hoặc gây tranh cãi, chúng tôi bỏ qua.
Không để bạn đọc phải chờ đợi lâu. Sau đây là một số “trắc nghiệm” chính tả của GS Nguyễn Lân trong “Muốn đúng chính tả”:
Muốn đúng chính tả:
+Chảo:sanhchảo, lòng chảo.
+Sanh:xương quai sanh, sắm sanh, sạch sành sanh.
*Sai lần1: Xanh chảo chứ không phải “Sanh chảo”.
-Từ điển Việt-Bồ-La: “Xanhgang: nồi lớn, vạc, chảo, cái xanh gang”.
-Quốc âm tự vị: “Xanh: thứ chảo đứng vành”.
-Việt Nam tự điển: “Xanh. Đồ làm bếp, sâu lòng, thành đứng, thường làm bằng đồng. Văn liệu: Xanh không thủng cá đi đằng nào (tục ngữ) Thịt một Xanh không hành cũng không thơm (T-ng).
-Từ điển chính tả-Hoàng Phê (gọi tắt 1) Từ điển chính tả tiếng Việt-Nguyễn Thế Truyền (gọi tắt 2): Xanh (bắc xanh lên bếp).
*Sai lần 2:Viết đúng Xương quai Xanh (vần X),không phải “xương quai Sanh” (vần S). Xương quai xanhchính là cách gọi xương đòn, do nó ở hai bên vai người, hình dáng giống như hai cái quai của cái xanh (chảo). Các sách từ điển trước 1945 và một số từ điển chính tả hiện đại không thấy ghi nhận “xương quai xanh”. Nhưng TĐTViệt cho biết: “Xương quai Xanh đồng nghĩa xương đòn”. Ngoài ra, trong đời sống hàng ngày cũng như sách báo, y học đều ghi nhận là xương quai Xanh chứ không phải “quai Sanh”.
“Muốn đúng chính tả”:
- Chỗi.Chỗi dậy, chỗi gót.
*Sai: Viết đúng là TRỗi dậy (vần TR), không phải “CHỗi dậy” vần CH. Đây là cái sai theo kiểu của chữ viết ở hầm "chú ẩn" mà GS Nguyễn Lân từng phản đối (theo giai thoại).
-Từ điển tiếng Việt:TRỗi: 1.nhổm người dậy không nằm nữa. trỗi dậy: đang nằm bỗng trỗi người lên nhìn; 2. dấy lên, nổi lên mạnh mẽ. nỗi nhớ trỗi lên.
-Từ điển chính tả(1 + 2) trỗi dậy; âm nhạc trỗi lên, tình cảm trỗi lên, tiếng hát trỗi lên.
“Muốn đúng chính tả”:
- Dãi.dãi nắng, dãi dầu, Dãi thể...
*Sai: GIải thể (vần GI) không phải “Dãi thể” (vần D). Chứng cứ: Từ điển tiếng Việt, Từ điển chính tả(1+2) đều ghi nhận GIải thể. Sách báo hàng ngày đều đồng thuận.
“Muốn đúng chính tả”:
-Giấn.giấn xuống, giấn thân, giấn mình.
*Sai:Ta có thể chấp nhận “giấn xuống” đồng nghĩa với động từ nhấn hay nhận, dìm cái gì xuống (theo quy luật biến âm như: giăn-nhăn (nhăn nheo) gián-nhán (con gián). Tuy nhiên Dấn trong “dấn thân”, “dấn mình” phải là vần D, không phải GIấn vần GI. Trong thực tế cũng không thấy biến âm “giấn thân” thành “nhấn thân” hay “nhấn mình”.
-TĐTViệt: Dấn 2. tiến mạnh, vươn mạnh tới, bất chấp nguy hiểm.dấn thân: Dấn thân vào con đường tội lỗi.
-Từ điển chính tả (1+2) đều ghi nhận: dấn thân, dấn mình.
“Muốn đúng chính tả”:
+Giộp:bỏng giộp da, giộp vỏ.
*Sai: Bỏng Rộp, Rộp vỏ (vần R) không phải “GIộp” (vần GI).
-TĐTViệt:“rộp [lớp da hoặc lớp vỏ mỏng bên ngoài] phồng lên, thường vì nóng quá. bàn tay rộp lên. lớp sơn đã rộp.
-Từ điển chính tả (1+2): Rộp: tay bỏng rộp, rộp da; bỏng rộp cả da.
“Muốn đúng chính tả”:
+Dơm:Dơm dớm
+Dớm:Dớm máu, dơm dớm.
*Sai:Rơm rớm, Rớm máu (vần R) không phải Dơm, Dớm (vần D).
- TĐTViệt:Rơm rớm: rớm ra chút ít trên bề mặt. tay rơm rớm máu; rơm rớm nước mắt.
-Từ điển chính tả (1+2) Rơm: rơm rớm; Rớm: rớm nước mắt, rớm máu; vết thương rớm máu.
“Muốn đúng chính tả”:
-Rú: rú lên, mừng rú.
-Giu: GIu giú trong xó nhà.
-Giú:ngồi GIú một xó, ngồi GIu giú.
            *Sai: Ru Rú (vần R), không phải "GIu GIú" (vần GI). Cái sai của GS nhất quán ở cả hai mục từ "giu" và "giú" chứ không phải lầm lỡ một lần. Việt Nam tự điển: "Rú: trỏ bộ co ro một chỗ. Ngồi Ru Rú trong xó nhà". Các sách từ điển như: Từ điển tiếng Việt, Từ điển chính tả (1+2) ở cả hai mục từ ru đều ghi nhận cách viết "ru rú" chứ không phải "giu giú".
“Muốn đúng chính tả”:
-Dũ:quyến dũ.
            *Sai: Chỉ có quyến R hoặc quyến Rũ, không có "quyến dũ". Ví dụ: Quyến anh rủ én sự này tại ai ?(Kiều).
- Từ điển tiếng Việt: "quyến Rũ: làm cho người ta mê mẩn mà theo. Bị sắc đẹp quyến rũ. giọng hát quyến rũ".
-Từ điển chính tả (1+2) đều ghi nhận: quyến rũ.
“Muốn đúng chính tả”:
 -Rúi: con rúi.
            *Sai:con Dúi (vần D), không phải con Rúi (vần R). Các sách Việt Nam tự điển, Quốc âm tự vị không ghi nhận từ "dúi" trong con dúi. Tuy nhiên Từ điển tiếng Việt Từ điển chính tả(1+2) đều ghi nhận: con Dúi; con Dúi ăn rễ cây.
“Muốn đúng chính tả”:
 -Trạnh:trạnh lòng, trạnhthương, trạnh niềm, cá trạnh.
*Sai cả 3 từ: Viết đúng phải là: CHạnh lòng, chạnh thương, chạnh niềm (vần CH) không phải TRạnh (vần TR).
-Việt Nam tự điển: CHạnh: cảm động: chạnh thương, chạnh nhớ, chạnh tưởng. Chạnh lòng: cảm động.
-Từ điển chính tả (1+2) chạnh lòng.
-Từ điển Truyện Kiều: CHạnh: cảm động. Vd Nỗi niềm riêng chạnh. Chạnh niềm: Chạnh lòng, động lòng mà nghĩ nhớ. Ví dụ: Chạnh niềm nhớ cảnh giang hồ.
            “Muốn đúng chính tả”:
            -Trèn.cá trèn, nông trèn trẹt.
            *Sai: CHoèn choẹt vần (CH) không phải TRèn trẹt (vần TR); Mặt khác, vần oèn oẹt không phải vần “...èn” và “...ẹt”.
-Việt Nam tự điển: Choèn: giếng nông choèn choèn.
-Từ điển chính tả 1: Choèn: choèn choèn, nông choèn.
-Từ điển chính tả 2:Choèn: hầm nông choèn; choèn choèn, choèn choẹt.
“Muốn đúng chính tả”:
-Xàm:nói Xàm, xàm xĩnh, Xàm Xỡ, cái xàm xạp.
-Xỡ:Xàm Xỡ.
*Sai:Sàm sỡ (vần S), không phải “Xàm xỡ” (vần X).
-Quốc âm tự vị:Sàm: gièm. Sàm nịnh, Sàm siểm, sàm dua, sàm ngôn.
-Việt Nam tự điển:Sàm nói dèm: Miệng sàm dệt gấm thêu hoa. Sàm báng: dèm pha: nghe lời sàm báng mà làm hại kẻ trung lương”.
-Từ điển tiếng Việt:Sàm sỡ. ăn nói sàm sỡ. cử chỉ sàm sỡ”; sàm ngôn. lời gièm pha, nói xấu. lời sàm ngôn.
-Từ điển Truyện Kiều:Sàm sỡ: Sỗ sàng, thô bỉ. Vd Sợ lần khân quá ra sàm sỡ chăng ?
-Từ điển chính tả(1 và 2) Sàm: sàm báng, sàm nịnh, sàm sỡ.
-Hán Việt tự điển(Thiểu Chửu) Sàm:  Gièm pha, thêu dệt các lời nói bậy làm cho mất cái hay cái phải của người đi gọi là sàm”.
 “Muốn đúng chính tả”:
-Xạm:xạm mặt, đen xạm.
*Sai lần 1:Sạm mặt (vần S) không phải “Xạm mặt” (vần X).
-Quốc âm tự vị:Sặm: sặm màu: màu đậm. Sặm nước da: màu da có màu nhiều.
-Việt Nam tự điển: Sạm: xám đen lại. đi nắng sạm da. Sạm mặt nghĩa bóng: làm cho phải xấu hổ. Bị mắng sạm mặt.
Như vậy “Sặm” hay “Sạm” đều có sự thống nhất trong cách phát âm và viết  làvần S, không phải vần X.
“Muốn đúng chính tả”:
-Xì:xì hơi, pháo xì, đen Xì
*Sai: Đen Sì (vần S) không phải đen Xì (vần X).
-Việt nam tự điển: Sì: nói cái sắc đen lắm: Người đen Sì, Trời tối đen Sì.
-TĐTViệt: Sì. đen sì; mặt gỗ nhám sì; môi thâm sì.
-Từ điển chính tả(1+2) đều ghi nhận đen Sì, không phải đen Xì.
“Muốn đúng chính tả”:
-Soe:bộ sun soe.
* Sai: Xun xoe (vần X) không phải Sun soe (vần S).
-Việt Nam tự điển:Xun xoe: trỏ bộ chạy đi chạy lại loanh quanh một chỗ: thằng bé chạy xun xoe.
-TĐTViệt:Xun xoe: từ gợi tả dáng vẻ, cử chỉ săn đón, vồn vã quá đáng nhằm nịnh nọt. Bộ dạng xun xoe; chỉ giỏi xun xoe nịnh bợ.
-Từ điển chính tả (1+2): đều ghi nhận Xun Xoe
“Muốn đúng chính tả”:
-Xóng:ngã Xóng xoài.
*Sai: Vẫn là kiểu sai ở nhà “vệ xinh”: Sóng Soài (vần S) không phải Xóng Xoài (vần X).
-Việt Nam tự điển:Sóng sượt: nói cái bộ nằm dài thẳng cẳng ra. Ngã sóng sượt, nằm sóng sượt.
-TĐTViệt:Sóng soài như Sóng sượt. Ngã sóng soài.
-Từ điển chính tả (1+2) đều ghi nhận Sóng soài, không có “xóng xoài”.
“Muốn đúng chính tả”:
-Sỡ:Xặc sỡ
* Sai: Sặc sỡ (sặc vần S) không phải “Xặc sỡ” (vần X).
-Từ điển Việt-Bồ-La: Hoa sắc sỡ; nhiều màu sắc.
-Quốc âm tự vị: Sặc sờ: có nhiều sắc xen lộn không đều. Lao xao đáy biếc sặc sờ dòng xanh. Sỡ: sắc sỡ: Màu sắc khác nhau. Rỡ: Cùng một nghĩa. Rắn hoa sắc sỡ: Rắn nhiều màu sắc khác nhau.
-Việt nam tự điển:“Sặc sờ: cũng như sặc sỡ. Sặc sỡ: nói về nhiều màu, nhiều sắc không đều chen lẫn nhau và khó coi: quần áo sặc sỡ.
“Muốn đúng chính tả”:
-Sực:sực nhớ, sực nức, nó sực hết rồi.
*Sai: Từ “Xực” vốn là chữ (ngật) gốc Hán nghĩa là ăn uống nói chung. Khi Việt hóa được đọc là “Xực” cũng chỉ ăn uống nhưng với nghĩa xấu, thô tục.
- TĐTViệt:Xực: ăn [hàm ý thô tục] đồng nghĩa đớp, hốc, tọng.
-Từ điển chính tả (1+2) đều ghi nhận “Xực”: Xực = ăn. Xực hết nồi cơm nguội.
“Muốn đúng chính tả”:
            -Chun:có người dùng lầm thay chui.
            Về nghĩa từ vựng, GS Nguyễn Lân lầm chứ không phải “có người dùng lầm”. Ở Thanh Hóa (ví dụ vùng Nông Cống) từ “chun” được dùng với nghĩa là chui. “Chun” cũng được Việt Nam tự điển, TĐTViệt ghi nhận là phương ngữ với nghĩa “chui”(chui ra chui vào).
            “Muốn đúng chính tả”:
            -Trun:dây TRun, trun giãn.
            -Giãn:TRun giãn, giãn thợ.
            *Sai:Dây CHun (vần CH), không phải dây “trun” (vần TR); Chun giãn không phải Trun giãn”. Đây có vẻ giống như trường hợp “đá bóng ra ngoài còn khó hơn đá vào trong”.
-Từ điển tiếng Việt:CHun. danh từ: dây chun [nói tắt] đứt chun quần. sợi chun buộc hàng; động từ [vật có khả năng co giãn] tự co lại, thu ngắn lại. sợi đã chun lại. đỉa chun mình. “Mắt hắn chun ngay lại, miếng cám đắng ngắt và nghẹn bứ trong cổ” (Kim Lân) đồng nghĩa: thun.
-Từ điển chính tả(1+2) đều ghi nhận dây CHun, CHun giãn.
Phần “trắc nghiệm” trình độ chính tả của GS Nguyễn Lân trong cuốn sách được chính tác giả xếp vào loại “từ điển chính tả” xin được tạm dừng ở đây. Nhiều vấn đề trong "Muốn đúng chính tả"vẫn còn là câu chuyện dài. Chúng tôi xin được nói đến vào một dịp khác.
Như vậy, vẫn là cách làm ngược thường thấy của GS Nguyễn Lân: sách "Muốn đúng chính tả" đã trở thành "Muốn sai chính tả"!
                                                                                        HTC
(Hết phần I)
Đón xem phần II
 Năm mươi năm sau

- Những sách đã dẫn và tham khảo:
1,“Đại Nam quấc âm tự vị”(Dictionnaire ANNAMMITE) Huình Tịnh Paulus Của - Sài Gòn 1895.
2,Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam - GS Nguyễn Lân (NXB Văn Hóa - 1989)
3,Việt Nam tự điển - Hội Khai Trí Tiến Đức - Nhà in Trung Bắc Tân Văn - 1931 (bản Scan của vietnamtudien.org )
4, Từ điển An Nam-Lusitan-La tinh (Thường gọi Từ điển Việt - Bồ - La) Alexandre De Rhodes - Phiên dịch: Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Đỗ Quang Chính - NXB Khoa Học Xã Hội - 1991.
5, Hán Việt tự điển - Thiều Chửu - NXB Thành phố Hồ Chí Minh - 2004.
6. Hán Việt Từ điển - Đào Duy Anh biên soạn - Hãn Mạn Tử hiệu đính - NXB Trường Thi - Sài Gòn 1957.
            7. Từ điển truyện Kiều-Đào Duy Anh-NXB Khoa học xã hội-1974. 
            8. Từ điển chính tả-Hoàng Phê-NXB Đà Nẵng và Trung tâm từ điển học-2006.
            9.Từ điển tiếng Việt-Hoàng Phê chủ biên-In lần thứ 5 có sửa chữa bổ sung-NXB Đà Nẵng-2013.
            9.Từ điển chính tả tiếng Việt-Nguyễn Thế Truyền-NXB Thanh Niên-2012.
            10.Từ điển từ láy tiếng Việt-Viện ngôn ngữ học-NXB Khoa học xã hội-2011.
            Cùng nhiều loại từ điển, nguồn sách báo khác.







Thứ Bảy, 15 tháng 3, 2014

Đọc “Ký ức vụn” của Nguyễn Quang Lập

Mặc Lâm
Ảnh bên:Phương Nam Book đã tổ chức buổi ký tặng đặc biệt của nhà văn Nguyễn Quang Lập vào ngày thứ Sáu, 22-5-2009 tại Nhà sách Phương Nam Book 20 Lý Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Ký ức vụn 2, một tạp văn nữa của nhà văn Nguyễn Quang Lập vừa ra đời đóng góp thêm cho nền văn học Việt Nam những mẫu chuyện mà qua đó ít nhiều miêu tả lại chính xác hoàn cảnh sống, diễn biến xã hội và nhất là số phận từng con người mà nhà văn gặp qua, cảm nhận và chia sẻ.


Trong những con người ấy, nhà văn Nguyễn Quang Lập tỏ ra ưu ái phụ nữ rất rõ rệt, những phụ nữ mà dưới phác thảo của ông người đọc cứ ngẩn ngơ, rưng rưng tự hỏi sao họ lại khổ như thế?

Cái khổ vì miếng cơm manh áo của những người phụ nữ ấy hoàn toàn không có trong Ký ức vụn 2. Nguyễn Quang Lập viết về phụ nữ với những mảng tối khác. Anh lấy họ từ bạn bè, hàng xóm, người yêu và thậm chí từ người mẹ của mình. Phụ nữ qua ngòi viết của Lập đậm đặc bi kịch, có thể là họ nói ra hoặc không. Ngay cả khi họ âm thầm không nói thì nỗi uẩn ức cũng làm cơ thể họ toát lên những tiếng kêu phản kháng dữ dội. Lập đánh hơi họ bằng chiếc mũi thính của loài linh cẩu, phát hiện cái phần không thấy được bằng mắt. Anh ngửi tâm tư của họ toát ra từ những giọt mồ hôi bên trong chiếc áo, những giòng nước mắt chưa kịp chảy ra và cả những tiếng thở dài nuốt vào rất vội.

Trong 39 truyện đã có tới 17 truyện viết về phụ nữ và những truyện còn lại cũng không thể thiếu bóng dáng của họ. Truyện đầu tiên có cái tựa rất trẻ thơ, rất thiếu nhi và chừng như không dính dáng gì tới phụ nữ: Con bò của thằng Thọt, lại là phần mở đầu lý thú về sự nhỏ mọn, ác độc và lắm chuyện của một người đàn bà. Người đàn bà ấy đã từng đạp người khác để sống trong trong những hợp tác xã nông nghiệp bần cùng của miền Bắc.

Thằng Thọt lượm được con bê con đẻ rơi trong một cuộc đánh bom, nó đem về nuôi, khi lớn thành bò nó cho cả làng thuê đi cày. Bà S. cũng thuê bò của Thọt nhưng không trả tiền vì ỷ mình là cán bộ thôn chủ nhiệm hợp tác xã. Chính bà S. đánh thuốc con bò thằng thọt và kéo nhau tới không cho bán thịt mà bắt phải chôn. Sau này Thọt phát hiện nhờ thấy cái lục lạc con bò của nó được thằng con của mụ S. cầm chơi. Ba chục năm sau Nguyễn Quang Lập thấy mụ xuất hiện trên TV vẫn luận điệu như ngày xưa chỉ tay năm ngón ở HTX, lần này mụ chỉ tay trên TV:

“Bà nói rất hay, Đảng thế này nhà nước thế kia, chế độ thế này xã hội thế kia, đất nước thế này dân tộc thế kia… hay như đài nói. Mỗi tội giọng bà chua loét như đài kẹt volume nghe xói vào tận óc, rất kinh.”

Nhúm lông

Đàn bà đối với Nguyễn Quang Lập có một mối duyên thầm nào đó khiến anh luôn gặp họ trên từng độ tuổi. Chị L. bật dậy trong trí nhớ và kể lại câu chuyện của chị sau gần năm mươi năm ca cách. Chuyện chị đơn giản và trần trụi, cái trần trụi của Eva từ khi vườn địa đàng chưa đóng cửa.
Cái nhúm lông muôn đời ấy qua ngòi viết của Lập bỗng dưng có thêm chiếc màn nhung, thêm âm thanh, ánh sáng cho một buổi diễn ngoài trời dành cho trẻ con bằng câu chuyện của người lớn. Trong khi trẻ con vỗ tay rầm trời thì người lớn lại thở dài cho những người đàn bà giống như chị L.


  Mình ghé tai thằng Quí, nói răng chị L. yêu một lúc hai người. Thằng Quí chặc lưỡi, nói biết được. Bỗng có tiếng cãi nhau. Chị L. kêu to, nói hai người sáu  chục ( đồng), răng lại bốn chục. Người đàn ông nói tụi anh chỉ có chừng đó, em thông cảm. Chị L. rú lên, nói đưa ngay thêm hai chục, đưa ngay. Hai người đàn ông bỏ chạy. Chi L. tru tréo chửi, nói vơ cha tổ tụi bay nời, ăn không l. tao nha. Mình với thằng Quí nhảy ra, nói ê ê tụi em biết chị làm chi rồi nha. Chị L. sững lại, từ từ khụy xuống trước mặt hai đứa mình, nói chị phải làm rứa để nuôi cả nhà, chị lạy hai em đừng nói với ai hết.  Chị chắp tay vái tụi mình như tế sao, vừa vái vừa khóc.”

 Bây giờ chị L. đang ngồi trước mặt tác giả, mặt mày tươi rói, nói nửa thế kỉ rồi Lập hè,mau thiệt. Chị bỏ giọng Bắc nói nguyên xi tiếng bọ.

Chị cười to, nói chuyện chị tắm với con cháu 10 tuổi. Nó thấy chị có nhúm lông, nói răng dì có mà con không có. Chị nói lớn lên rồi con cũng có. Nhờ nhúm lông ni mà dì nuôi sống cả nhà đó con.

Mụ Cà

Bên cạnh chị L. là câu chuyện của mụ Cà.. Mụ Cà bị giặc Pháp hiếp dâm và sau đó lại tiếp tục bị đội trưởng du kích Cu Miễn hiếp dâm bằng quan điểm một lần nữa. Có khác là mụ bị gặc hiếp nơi vắng vẻ còn du kích Miễn thì hiếp mụ giữa hội làng.

“Chuyện mụ Cà bị một lính Tây hiếp cả làng ai cũng biết, bàn tán xôn xao. Cu Miễn họp đội du kích phát động căm thù. Cu Miễn nói đồng chí Cà kể lại cho anh em nghe. Mụ Cà nói kể cái chi? Cu Miễn nói kể việc đồng chí bị  giặc Pháp hiếp ra răng. Mụ Cà nói thì cũng giống như lẹo chắc, nhưng đây là hiếp. Rứa thôi, chi mà kể. Đồng chí Cu Miễn không biết lẹo chắc à? Cu Miễn nói đồng chí Cà nghiêm túc vào, hiếp khác với lẹo chắc. Mụ Cà nói nhưng tui không biết kể chi hết. Cu Miễn nói ví dụ giặc Pháp đè đồng chí xuống, xé áo quần đồng chí rất dã man. Mụ Cà nói đúng rồi rất dã man. Tui chống cự rất quyết liệt, vừa chống cự vừa hô đả đảo đế quốc Pháp. Cu Miễn mừng rỡ, nói rứa đó rứa đó, đồng chí kể tiếp đi. Mụ Cà nói chỉ rứa thôi, biết kể chi nữa. Cu Miễn nói lúc đầu răng, cuối cùng ra răng cứ rứa mà kể. Mụ Cà hỏi kể thiệt a? Cu Miễn nói có răng đồng chí cứ kể rứa.

Mụ Cà nói báo cáo các đồng chí lúc đầu hắn đâm một phát tui chửi rất hăng, sau hắn đâm nhiều quá, sướng rồi hết chửi. Mọi người cười, vỗ tay ầm ầm, nói ua chầu chầu hay hè hay hè. Cu Miễn tức, đập bàn chỉ tay mụ Cà quát, nói phản động! Bắt mụ ni trói lại cho tui. Mọi người ngơ ngác không hiểu sao.”

Chỉ bao nhiêu là đủ để dựng thành một cuốn phim tái tạo lại lịch sử. Lịch sử u tối và đầy xác chết của những lý thuyết vô hồn.

Chị  Mai và Cu Mèo

Nếu Cu Miễn hiếp dâm mụ Cà bằng lời thì Cu Mèo lại hiếp dâm bằng hành động của một con thú đực trên một con cái không còn sức đề kháng. Câu chuyện của người phụ nữ tên Mai sẽ ám ảnh người đọc suốt những trang sách của Nguyễn Quang Lập.

Sau khi bị Cu Mèo hiếp dâm chị Mai xấu hổ không dám nói ai, chị quyết định quyên sinh. Chị đi một mạch xuống Quảng Thanh, ngồi đúng nơi “tọa độ lửa” đợi máy bay tới thả bom. Chị không chết, bị một mảnh bom đâm đúng cuống họng, không nói được, nói gì cũng cứ “dá da dá da”.

Trước hiếp sau cướp, Cu Mèo lấy luôn đất nhà chị và cấp cho chị một cái nhà khác như nắm tay. Mèo còn tỏ ra quan tâm đến chị, một con người vừa mất trinh tiết vừa mất nhà và mất luôn tiếng nói trong bàn tay của y.

“Năm đó chị Mai về làng thì ngôi khu vườn 5 sào của chị bị cha con cu Miễn chiếm dụng. Chị Mai kiện cáo khắp nơi. Chị không có chữ chẳng viết đơn được, nói gì cũng dá da da chẳng ai hiểu gì. Con kiến kiện củ khoai, nói gì cũng dá da da thì kiện cái gì nhưng chị không nản, ba chục năm này chị kiên trì bám theo  Cu Mèo, hễ gặp Cu Mèo đâu chị cũng túm áo lão kêu dá da da. Phiền quá Cu Mèo mới thí cho chị cái nhà này đấy. Dứt lời thằng bạn mình cười he he, nói đó, tình nghĩa Cu Mèo là rứa đó.”

Và rồi như người ta vẫn thường thấy trong xã hội Việt Nam trong những nhiễu nhương văn hóa, Cu Mèo lên sâu khấu hót những lời mà chị Mai chỉ còn biết “dá da dá da” nghẹn ngào:

“Đau khổ lắm các đồng chí ạ. Cu Mèo nghẹn lại như sắp khóc. Mọi người lặng thinh cảm động. Bỗng chị Mai nhảy lên túm áo Cu Mèo, nói dá da da da!... Dá da da! Chị khóc òa day áo Cu Mèo liên tục, nói dá da da da. Mình tưởng Cu Mèo thẹn đỏ mặt, chẳng dè Cu Mèo ôm chầm lấy chị, vỗ vỗ lưng chị nghẹn nào, nói chị đừng nói lời cảm ơn, đừng nói lời cảm ơn nữa chị Mai ơi.

Mọi người cảm động vỗ tay rần rần.”

Chị Đóc Xấu 

Từng người đàn bà với những số phận hẩm hiu qua mỗi trang sách của Nguyễn Quang Lập, chủ yếu vì sự xấu xí trên khuôn mặt hay cơ thể dẫn đến bi kịch của họ trong đêm dài thế kỷ. Chị tên Đóc nhưng do quá xấu đối với cặp mắt người miền quê nên chị có thêm biệt danh xấu phía sau thành Đóc Xấu. Mặt mũi chị cũng dễ nhìn nhưng do chị cao quá khổ thành ra lêu khêu không xứng với một thanh niên nào trong làng. Thời may một lính Mỹ bị bắn rơi máy bay được chị giấu trong nhà, vậy là cái cuộc tình dài ngoẵng ấy giữa chị và anh chàng Mỹ kia thành hình trên chiếc giường đặc biệt đóng riêng cho chị. Nguyễn Quang Lập kể:

“Chỉ có giường chị Đóc Xấu thằng Mỹ mới nằm vừa, chị Đóc Xấu để nhà cho thằng Mỹ ở, sang ngủ với mụ Cà. Nửa đêm chị Đóc Xấu trằn trọc không ngủ được. Mụ Cà hỏi răng không ngủ, chị Đóc Xấu nói nằm giường chị đau lưng lắm.Mụ Cà nói hay cho mi sang ngủ với thằng Mỹ? Chị Đóc Xấu cười rúc rích, ôm lưng Mụ Cà, nói tây hiếp chị ra răng. Mụ Cà nói sướng chớ răng. Chị Đóc Xấu nói sướng răng sướng răng, kể đi kể đi. Mụ Cà vằn mắt lên, nói coi bộ mi mê thằng Mỹ rồi phải không? Chị Đóc Xấu cười hì hì, nói công nhận thằng Mỹ đẹp trai.”

Sau cái đêm “sướng răng, sướng răng” ấy chị Đóc Xấu có mang và thằng Mỹ quay trở lại đón chị. Từ Mỹ quay về Việt Nam chị đã cởi hẳn cái lớp áo xấu xí để trở thành thiên nga, cho dù giả tạo và đầy ắp sự kệch cỡm thường thấy từ những người thoắt cái nhảy phóc lên tới trời.

 Chuyện tình của mạ tôi
 
Nhưng có lẽ gom góp hết cái hay, sâu lắng và điển hình nhất của những người phụ nữ kém nhan sắc, âm thầm sống và âm thầm hưởng thụ từ người đàn ông có chút công danh phải tìm trong câu chuyện của chính thân sinh tác giả.

Nguyễn Quang Lập viết truyện này không dễ dàng chút nào mặc dù anh sống dưới mái nhà do bà quán xuyến nhiều chục năm trời. Có lẽ điều làm cho anh nhớ và khắc sâu vào ký ức là những ngày tháng thơ ấu, lúc bộ não như một tờ giấy trắng và cái nhạy bén của Lập đã chụp lại tất cả những hình ảnh mà anh mang theo trong suốt cuộc đời.

“Mạ tôi nhan sắc tầm thường, một chữ bẻ đôi cũng không biết, chị của 9 đứa em đói rách lầm than.”
Bao nhiêu đó đủ diễn tả bà mẹ của Lập. Bà mẹ, theo như anh tả không phải là hiếm trong xã hội nếu không muốn nói là quá dôi ra so với những người đàn bà dễ nhìn khác. Khác ở cách nhìn của tác giả và lòng yêu thích người cha của bà mẹ. Độ trễ nhiều chục năm sau ngày bà lấy chồng, so sánh thời gian đăng đẳng để thấy bà không phải là an phận mà bà hạnh phúc thật sự. Niềm hạnh phúc được ban phát như bố thí của người chồng không làm bà đắn đo, so sánh hay tủi hờn. Với bà, lấy được ông ấy làm chồng là ơn phước, là được cả thế giới trong tay.

Câu chuyện vừa đào sới cơn thèm khát sâu thẳm của một người vợ, và rồi sau đó nhịp điệu bình an, tự tồn tại và mái ấm gia đình đã khiến bà trở thành điển hình, một điển hình hạnh phúc không qua định nghĩa của bất cứ nhà lập ngôn nào.

Nguyễn  Quang Lập viết về cái đêm tân hôn giữa cha và mẹ: “Đêm thứ ba mươi mốt ba tôi mới chịu vào buồng, khi không còn tìm được bất kì lí do chính đáng nào để từ chối hợp cẩn với người đàn bà hơn mình hai tuổi.”

“Mạ tôi giấu hân hoan vào bộ ngực đầy, giấu luôn đôi mắt mắt long lanh chứa chan hy vọng. Bà ráng làm mặt giận, cố hắt ra một câu suốt ba mươi đêm vò võ một mình bà đã nhẩm thuộc làu, nói răng không đi luôn đi, vô đây mần chi. Nhưng bà đã không nói được. Khi ba tôi cầm nhẹ tay bà, nói giận anh không, bà đã khóc òa.

Mạ tôi suốt đời không biết người đàn ông nào khác ngoài ba tôi. Không phải vì thứ đức hạnh truyền kiếp của đàn bà chân quê, chính là vì bà tự biết mình được hưởng phúc quá lớn, hơn vạn đêm được “quân tử nằm kề”, con số chính xác có trừ đi khoảng bốn ngàn đêm ba tôi vắng nhà đi công tác hoặc qua đêm với một ai đó trong bốn chục người tình nửa nắng của ông.

Hạnh phúc của mạ tôi giản đơn như cây cỏ, cứ ba năm hai lần vác cái bụng vượt mặt đi lại vênh vang giữa chợ phiên và hả hê chửi ba tôi như chửi chó mỗi lần vượt cạn.

Đọc Ký ức vụn 2 không nên đọc nhiều lần, vì có ai xem một vở kịch hay cải lương hay mà lại về nhà ăn chút cơm, uống miếng nước rồi quay lại sân khấu bao giờ. Bỏ cuốn sách xuống là bạn sẽ hồi hộp tự hỏi “thằng này, con kia” trong cuốn sách sẽ ra sao trong những trang kế tiếp? Vậy thì hãy đọc một mạch để rồi cười to hay chảy nước mắt cùng với nhân vật, những nhân vật đã làm nên tác giả.


Thứ Năm, 13 tháng 3, 2014

Nhân dân tưởng nhớ 64 liệt sĩ Gạc Ma anh hùng

 
Hôm nay, 14.3.2014, tròn 26 năm kỷ niệm trận Hải chiến Trường Sa và tưởng nhớ 64 anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống để bảo vệ biển đảo quê hương, nhiều người dân, đặc biệt là thanh niên khắp nơi đã có các hoạt động tưởng niệm:

Tại Hà Nội, các thành viên của No U đã đến viếng Đài Liệt sĩ Bắc Sơn:
 




 
Tại Miền Trung:










  Tại Quảng Bình:
Sáng 14.3, anh em công ty Phú Mạnh cùng các bạn bè viếng mộ AHLS Trần Văn Phương người con đất Việt đã hy sinh trong trận hải chiến Gạc Ma năm 1988. Có sự tham gia cuả anh Thành bí thư Đảng ủy xã QPhúc. Bài Văn tế Gạc Ma của Việt Thắng được PPT đọc trang trọng trước phần mộ của anh Phương.

Kính viếng linh hồn các anh!