Thứ Tư, 12 tháng 3, 2014

Thử lý giải những sai sót để đời của Nhà biên soạn từ điển-GS Nguyễn Lân Kỳ 5


Kỳ 5:Tư duy logic
 Hoàng Tuấn Công 
 Xem Kỳ 1- Phương pháp luận  
 Xem Kỳ 2:Thiếu kiến thức cơ sở ngôn ngữ học
Xem Kỳ 3: Lỗ hổng kiến thức Hán Nôm
Xem Kỳ 4: Kiến văn và tra cứu

Nếu "Từ điển từ và ngữ Việt Nam" của GS Nguyễn Lân giống như một cái “kho” khổng lồ chứa muôn hình vạn trạng sự vật hiện tượng, thì các đơn vị từ, ngữ, khái niệm...chính là những sự vật hiện tượng được sắp xếp có hệ thống khoa học trong cái kho ấy. Bằng tư duy logic, Nhà biên soạn từ điển phải mô tả chính xác từng sự vật hiện tượng tương ứng với từ ngữ đó. 


Căn cứ mô tả này, người ta có thể “vào kho”, nhận diện và tìm thấy sự vật, hiện tượng (từ, ngữ) cần tìm một cách nhanh chóng, chính xác và sử dụng đúng mục đích. Tuy nhiên, khi thực hiện quy trình này, bạn đọc thấy xuất hiện một kiểu tư duy lạ của Nhà biên soạn từ điển: Tư duy “ảo thuật” ! Tức phân tích, mô tả, suy luận không theo quy luật khách quan; thiếu chặt chẽ; thiếu hệ thống, nhất quán, khiến các sự vật, hiện tượng bị đảo lộn, méo mó, sai khác, mâu thuẫn; cái nọ bỗng biến thành cái kia một cách phi lý.
1. biến thành rùa:
-         Lò dò như cò phải bão. Chế người đi quá chậm.
Đây là loại thành ngữ so sánh, A giống như B. Nếu căn cứ vào miêu tả, giải thích của GS Nguyễn Lân “Chế người đi quá chậmđể đi tìm từ, ngữ tương ứng, người ta sẽ vào trong "kho" lấy ra con rùa, hoặc con ốc sên chứ không phải con "cò phải bão" ! (Lưu ý, câu “Chậm như rùa”, GS Nguyễn Lân giải thích chậm quá”)
Trong thành ngữ đang xét, "lò dò"là nghĩa gốc; "như cò phải bão"là nghĩa biểu trưng cho thuộc tính "lò dò", dân gian so sánh để làm tăng thêm giá trị nghệ thuật của từ, ngữ. “Từ điển tiếng Việt” (Hoàng Phê chủ biên) giải nghĩa: lò dò: “đi lần từng bước ngắn một cách chậm chạp, như thể vừa đi vừa dò đường”. “Việt Nam tự điển” (Hội Khai Trí Tiến Đức) “Lò dò: đi dò từng bước: Lò dò như cò bắt tép”. Như thế, ngay cả khi chỉ có hai từ “lò dò”, sự “chậm chạp” cũng chỉ là một biểu hiện, chứ không phải nghĩa đặc trưng, bao hàm của “lò dò”. Huống gì, sự “lò dò” ở đây đã được tăng thêm hai cấp độ: được ví “như cò”, mà lại “cò phải bão” !
Trong tiếng Việt, con cò là hình ảnh hay được ví von, liên tưởng đến sự gầy gò, ốm yếu, mảnh khảnh: trông như con cò hương; lử cò bợ; giống như con cò ngàng; ngẳng như cổ cò...Ngược lại, cò chưa bao giờ là hình ảnh khiến chúng ta liên tưởng ngay đến sự chậm chạp. Theo nghĩa đen: tạo hóa ban cho con cò cặp chân dài, cổ và mỏ dài, cái đuôi ngắn để nó dễ bề lặn lội kiếm ăn trong môi trường nước. Khi rình bắt mồi, đôi chân cao của nó thận trọng đi từng bước một. Để làm gì ? Để không làm xao động mặt nước hay lá cây, ngọn cỏ. Lò dòđến gần mấy ả tôm tép đang tung tăng bơi lội, hay bọn châu chấu còn mải mê nhấm nháp cỏ non... Nhanh như chớp, cò “tung” cái cổ dài, mỏ dài của nó ra bắt gọn con mồi. Bình thường, ngoài tập tính phải lò dò khi rình bắt mồi, do chân dài, cổ dài, đuôi cộc nên cò bước đi khá vụng về. Sức mạnh, sự nhanh nhẹn, linh hoạtcủa con cò không phải ở đôi chân mà là cái cổ dài ngẳng với “sức bật” như tên bắn khi bắt mồi và đôi cánh có khả năng bay cao, bay xa ngàn dặm. Chỗ ở của cò là các ngọn cây cao. Mưa bão buộc nó phải rời bỏ bầu trời và ngọn cây xuống tá túc ở các bờ bụi. Có những con không kịp tìm nơi tránh trú, bị mưa bão thổi bạt xuống đồng không mông quạnh. Cò vốn đãmảnh khảnh, yếu ớt, đi lò dò từng bước, nay lại bị gió dập, mưa vùi, lông cánh ướt sũng, đói rét,càng trở nên lò dò, run rẩy, liêu xiêu. (Tục ngữ còn có câu Trai phải hơi vợ như cò bợ phải trời mưa. Con cò bợ thường đứng rụt cổ, co ro, nay bị mưa ướt, trông càng rũ rượi, ốm yếu thảm hại).
Vậy chỉ cần nói lò dò như con cò, hoặc "Lò dò như cò bắt tép" cũng được, sao dân gian lại nói “Lò dò như cò phải bão” ? Ấy là dân gian muốn nâng thêm một cấp độ, tạo thêm hình ảnh gợi tả, sinh động của từ, đẩy sự “lò dò” lên đỉnh điểm: lò dò từng bước run rẩy, liêu xiêu tựa hồ không bước nổi. Ấy chính là “Lò dò như cò phải bão”.
2. "Hô biến" con chuột chù. Đang lù rù khói bỗng co ro rét.
-Lù rù như chuột chù phải khóiChê người cứ co ro ngồi một chỗ. Trời có rét lắm đâu mà lù rù như chuột chù phải khói thế kia !
Cách giải thích “Chê người cứ co ro ngồi một chỗ” của GS Nguyễn Lân khiến ta chẳng còn thấy bóng dáng con “chuột chù phải khói”đâu cả.
Xét về nghĩa đen. Chuột chù (chuột chù nhà) là con vật chân ngắn, không hề biết leo trèo. Mắt chuột chù ti hí, cái mũi dài nhọn một cách bất thường. Dường như khứu giác của nó phải làm việc cật lực để bù cho thị giác. Thế nên, giống chuột này đi chẳng ra đi, bò chẳng ra bò, cái đuôi kéo lê thê trên đất. Cứ mấy bước lại dừng, hít hít, ngửi ngửi lần đường, bộ dạng chậm chạp, lờ đờ như con chuột ốm. Nếu gặp kẻ thù, nó cũng chẳng nhanh hơn. Bởi lẽ, vũ khí của nó không phải ở đôi chân mà nằm hết trong cái túi xạ lợi hại. Khi gặp nguy hiểm, nó tiết ra một mùi hôi khét nồng nặc, cực kỳ khó chịu, khiến kẻ thù dù đói bụng và phàm ăn đến mấy cũng phải ngán ngẩm mà bỏ đi. Bởi thế, lúc nào chuột chù cũng cứ lù đà lù đù. Nó không thể (hay không thèm ?) nhanh hơn chút nào. Trở lại chuyện “chuột chù phải khói”. Đối với chuột cống, chuột nhà, chuột đồng...bình thường nhanh nhẹn, khoẻ mạnh là thế. Nhưng khi bị hun khói, đầu óc choáng váng do thiếu oxy, mắt mờ đi vì khói, chúng cũng trở nên lờ đờ, chậm chạp, đâm quàng đâm xiên, mất hết phương hướng. Huống hồ đối với con chuột chù vốn đã lù đù, chậm chạp, yếu ớt, nay lại thêm “phải khói” nữa thì nó còn lù đù đến mức nào ? Mặt khác, xét theo nghĩa đen, sự phản ứng của người và vật khi bị khói rất khác với bị rét. Thành ngữ đang so sánh nhận xét ai đó giống như con chuột chù phải khói (lù đù, hoặc lù rù) sao Giáo sư lại đem chuyện bị rét (co ro) ra để giải thích ? Lù đù với co ro là một khác biệt rất lớn về ngữ nghĩa. Lù đù, hay lù rù, trong đó hàm ý sự dịch chuyển một cách chậm chạp, ốm yếu. Còn co ro lại được hiểu là trạng thái ngồi, nằm, đứng một chỗ, chân tay co lại vì giá lạnh. Giả sử vừa đi vừa co ro thì nói đến co ro, người ta nghĩ ngay đến rét chứ không phải do khói. “Từ điển tiếng Việt” (Hoàng Phê) giải nghĩa “lù rù:từ gợi tả dáng vẻ chậm chạp, lờ đờ như người đau yếu”;lù đù: từ gợi tả dáng vẻ ngờ nghệch, chậm chạp, không lanh lợi”, “co ro: co người, thu nhỏ người lại cho đỡ rét”.“Việt Nam tự điển” (Hội Khai trí Tiến Đức): “Lù đù. Ngờ nghệch, chậm chạp: Trông người lù đù không làm được việc gì: Lù đù như chuột chù phải khói”; “Co ro. Cúm rúm, không được chững chạc: Trời rét ai cũng co ro, không muốn làm gì”.
Chúng ta đặt câu hỏi: phải chăng GS Nguyễn Lân không phân biệt được nghĩa của hai từ “lù rù”, “lù đù” với từ “co ro” ? Thưa không phải ! Ở ngay trên mục “Lù rù như chuột chù phải khói” là từ “lù rù”, GS Nguyễn Lân đã giải thích đúng: “lù rù - Có vẻ ngù ngờ, không lanh lẹn: Người có vẻ lù rù nhưng gan góc lắm”; “lù đù - Chậm chạp, không lanh lẹn, ngờ nghệch”“co ro Thu mình lại vì rét”. Như vậy, tư duy của GS Nguyễn Lân đã không kết nối được “lù rù” nghĩa gốc đứng độc lập, với nghĩa tăng thêm trong thành ngữ “Lù rù như chuột chù phải khói”. Nhân tiện cũng nên nói thêm. Ví dụ về cách dùng từ “lù rù” của GS Nguyễn Lân không ăn nhập. Bởi bộ dạng lù rù hay nhanh nhẹn không chứng tỏ gan góc hay hèn nhát. Nên lấy ví dụ sát đúng hơn: "Người có vẻ lù rù nhưng lúc cần cũng nhanh nhẹn, được việc lắm". (Đại khái, xem từ điển của GS Nguyễn Lân, bạn đọc cứ có cảm giác cái sai, cái không chính xác xuất hiện ở khắp mọi nơi, thuộc nhiều kiểu, nhiều cấp độ).
3. “Chai sang cốc, cốc sang chai”:
- Con én đưa thoi (Cái thoi khung dệt đưa đi đưa lại như chim én bay lượn) Ví thời gian đi nhanh như thoi đưa trên khung cửi: Tiết vừa con én đưa thoi(Kiều)”
Không đúng ! Con én bay qua, bay lại giống như cái thoi khung dệt chứ không phải “Cái thoi khung dệt đưa đi đưa lại như chim én bay lượn”. Theo nghĩa đen, chim én có tập tính bay qua, bay lại như dệt, như đan trên bầu trời để bắt côn trùng làm mồi (gần giống kiếu bay bắt muỗi của dơi dơi). Mùa xuân ấm ám cũng là thời điểm nhiều loại côn trùng sinh sôi, nguồn thức ăn dồi dào của chim én. Hình ảnh chim én bắt mồi được ví với cái thoi dệt vải. Mà cái thoi dệt vải lại được ví như thời gian trôi qua rất nhanh. Ở đây, GS Nguyễn Lân mắc lỗi hai lần: Một: không phân biệt được cấu trúc câu tiếng Việt: “con én đưa thoi” khác với thoi đưa con énchứ ? Hai: về ngữ nghĩa, con thoi mới là hình ảnh tượng trưng cho thời gian trôi nhanh. “Hán Việt tự điển”-Thiều Chửu: “cái thoi nó đi lại rất nhanh, nên nói đến thì giờ nhanh chóng gọi là Nhật nguyệt như thoa (Dị bản: Tuế nguyệt như thoa (hoặc toa)-HTC chú thích) nghĩa là ngày tháng như thoi đưa”. Trong câu Kiều: “Tiết vừa con én đưa thoi, Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi”, Đào Duy Anh giải thích: “Thiều quang: ánh sáng đẹp của mùa xuân...tức ngày xuân là 90 ngày mà đã ngoài 60 ngày rồi, tức là sang đầu tháng ba” (Từ điển Truyện Kiều). Con én là biểu tượng mùa xuân. Nó bay qua, bay lại tựa con thoi trên bầu trời, khiến “tấm vải thời gian” ba tháng mùa xuân thấm thoắt đã gần “dệt” xong. Một sự ví von tuyệt vời ! GS nói “cái thoi khung dệt đưa đi đưa lại như chim én bay lượn” thì còn gì gọi là văn chương nữa ?
4.Dân định cư bỗng thành khách vãng lai.
- Đất lành chim đậu. Nói chung những nơi hiếu khách, ai cũng muốn đến thăm. Khách du lịch thích đến đó vì đất lành chim đậu mà.
Hai từ “chim đậu” khiến GS Nguyễn Lân không tư duy gì thêm mà nghĩ ngay đến “vụt đỗ, vụt bay” và giải thích sai cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Xin hỏi, nếu chỉ “đến thăm”, đến “du lịch” thì đất lành hay đất dữ đâu có quan trọng lắm ? Từ “đậu” ở đây có nghĩa là ở lạichứ không phải “đến thăm” hay “du lịch”. Có câu “Đất lành chim đỗ, đất ngỗ chim bay”(“đất ngỗ” tức là đất nghịch, đất không tốt). Về nghĩa đen: Tuy cuộc đời chim là cánh bay, nhưng mỗi loài đều biết chọn cho mình một môi trường sống ổn định. Nếu không bị đe dọa (kẻ thù, săn bắn) lại có khí hậu ôn hòa, nguồn thức ăn dồi dào, chim sẽ chọn đất ấy làm nơi trú ngụ, sinh sôi. (Cò vạc kiếm ăn từng thung-tục ngữ). Các vườn cò, vườn chim đông đúc đã chứng minh điều đó. Mảnh đất hấp dẫn muông thú đến trú ngụ, sinh sôi tất là mảnh đất hiền hòa, tốt tươi. Nơi đó cũng chính là môi trường sống lâu dài, lý tưởng của con người. "Đất lành chim đậu" thoạt nghe đầy vẻ huyễn hoặc. Tuy nhiên, đó là tư duy locgic, biện chứng của dân gian, phản ánh mối quan hệ chặt chẽ giữa con người-môi trường-thiên nhiên-vạn vật.
Tham khảo:Tương truyền, cụ Tổ bốn đời của Lê Lợi là Lê Hối, nhà vốn ở thôn Như Áng. Một hôm đi chơi, thấy đàn chim bay lượn vòng quanh trên khoảng đất dưới núi Cham (tức Lam sơn, nay thuộc huyện Thọ Xuân-Thanh Hóa), giống như đám người tụ hội. Cụ nghĩ “Chỗ này tất là nơi đất lành” bèn dời nhà đến ở, khai phá ruộng vườn, được ba năm thành sản nghiệp. Từ đó họ Lê đời đời hùng trưởng một phương.
Kiểu “tư duy xiếc”, “tư duy ngược” chúng ta bắt gặp khá nhiều trong từ điển của GS Nguyễn Lân:
5. Gối lên thành lấn sang, vụ sau thành vụ trước:
-Gối vụ Nói nhà nông làm lấn sang vụ sau, trong khi chưa xong hẳn vụ này. Nông dân phải gối vụ để tăng sản lượng.
Phải hiểu ngược lại: vụ sau gối vào vụ trước mới đúng. Nghĩa là khi vụ trước (vụ 1) chưa xong thì đã triển khai vụ sau (vụ 2). Như chuẩn bị cây giống, phân bón, nhân lực để khi vụ trước vừa xong thì gối ngay vào. Ví như để trồng ngô đông trên đất hai lúa, người ta gieo sẵn hạt ngô vào bầu trước khi trồng tới hàng tuần. Đến khi gặt mùa, thu hoạch lúa phía trước, cày ngay đất phía sau, rải phân bón đã chuẩn bị sẵn đầu bờ ruộng và đưa bầu ngô ra trồng (Sáng lúa, chiều ngô). Như thế cây ngô đông đã gối lên vụ trước được tới cả chục ngày.
Ở đây GS Nguyễn Lân đã không hiểu về sản xuất nông nghiệp lại mắc thêm lỗi dùng từ, diễn đạt. Bởi, “gối” khác với “lấn”. Gối là trong cùng một khoảng diện tích (hữu hình), thời gian (vô hình), một phần cái này gối, gác lên cái kia. Trong khi “lấn”lại là cái này chiếm chỗ của cái kia, một mất một còn, có cái này thì không có cái kia. Nếu nói vụ trước “lấn sang vụ sau” có nghĩa thời gian của vụ trước bị kéo dài, gây ảnh hưởng đến kế hoạch triển khai vụ sau, sao gọi là “gối vụ để tăng sản lượng” được ?
Cách diễn đạt này là kết quả của một tư duy thiếu chặt chẽ, mạch lạc.
6. Máy thu hình thành đài truyền hình:
-Màn hình. Bề mặt của đài truyền hìnhhoặc máy tính.
Phải hiểu ngược lại mới đúng: “màn hình”bộ phận hiển thị hình ảnh của máy tính hoặc máy thu hình chứ không phải "đài truyền hình". “Truyền hình” khác với hiển thị chứ ? Và nó không chỉ là “bề mặt” mà là một vật, một bộ phận. Ấy là chưa kể ngôn ngữ hàng ngày, màn hình còn được dùng để chỉ cái Ti-vi, máy thu hình.
7.Đi qua thành đi lại.
- Lai vãng(vãng: đi đến) Qua lại một nơi nào đó.
Vẫn là kiểu "tư duy ngược". Vãng”đi, đi qua chứ không phải "đi đến"; “lai” mới là đi lại, đi đến. Nên “lai vãng” mới có nghĩa là“qua lại một nơi nào đó” như GS đã giảng chứ ?
8. Đưa, rước thành đón rước:
-Đón người cửa trước, rước người cửa sau. Nói kẻ chuyên nghề mại dâm: Công an săn lùng những kẻ đón người kẻ trước rướcngười kẻ sau (Từ điển thành ngữ tục ngữ Việt Nam)
Đúng ra là “Đưa người cửa trước, rướcngười cửa sau”. Nếu cửa trước cũng đón,cửa sau cũng rước thì “mại” sao cho kịp ? Vả lại cùng đón, rước vào nhà cả, thà đi hết đằng trước cho xong ! Đây vốn là câu Kiều (Tin nhạn vẩn lá thư bài, Đưa người cửa trước rước người cửa sau”) GS Nguyễn Lân “lẩy” ra làm “thành ngữ, tục ngữ” nhưng đã chép sai, giải thích bừa, bất chấp phi logic. Nếu GS không khẳng định thêm lần nữa bằng ví dụ: “Công an săn lùng những kẻ đón người kẻ trước rước người kẻ sau”, bạn đọc sẽ nghĩ do lỗi in nhầm: đưa thành “đón”. Nhân tiện, lại xin nói thêm: GS Nguyễn Lân ví dụ “Công an săn lùng” những kẻ làm nghề mại dâm là hơi quá, bởi đây không phải tội phạm hình sự.
Tham khảo:Đào Duy Anh giải thích: Đưa người cửa trước, rước người cửa sau, Hình dung tình hình nhà thanh lâu tấp nập, mới đưa khách ra ở cửa trước, thì đã đón khách vào ở cửa sau, để họ khỏi gặp nhau(Từ điển Truyện Kiều).
9.Lỗi tư duy logic hệ thống, tiền hậu bất nhất:
Hình như có tình trạng “cát cứ” trong tư duy khiến GS Nguyễn Lân không thống nhất, kết nối được chuỗi các dữ liệu do chính soạn giả đưa ra trong cùng một cuốn sách:
-Đăng khoa (đăng: ghi tên; khoa: khoa cử).
-Kế thế đăng khoa(đăng: trèo lên).
Đều là “đăng khoa” cả, lý gì một “đăng”là "ghi tên", một “đăng”là "trèo lên" ? Thực ra chữ “đăng” trong hai trường hợp trên đều có nghĩa giống nhau: ghi danh khoa cử.
-Hiệu trưởng (...trưởng: người đứng đầu)
-Hiệu phó (…phó: người giúp đỡ) Người trong ban giám hiệu một trường học, có  nhiệm vụ phụ trách một số công tác và thay mặt hiệu trưởng khi cần thiết.
Giải thích từ, ngữ nhưng GS Nguyễn Lân không căn cứ vào nghĩa của từ ngữ mà lại dựa vào công việc hàng ngày của “Hiệu phó”để giải thích nôm na. Mặt khác GS cũng không nhớ hay liên hệ trước đó đã giải thích từ “trưởng” trong “Hiệu trưởng” thế nào. Chữ “phó” ở đây có nghĩa là thứ, thứ hai, thứ nhì chứ không phải là "người giúp đỡ". Thế nên Thứ trưởng còn được gọi là Phó bộ trưởng (bên Tàu). Chính Nguyễn Lân đã giải nghĩa chữ “trưởng” trong hiệu trưởng“người đứng đầu” đấy thôi. Sau người đứng đầu phải là người thứ hai, người đứng sau chứ ?
-Khí tượng thủy văn(văn: vẻ ngoài)
-Kính thiên văn(văn: văn vẻ)
Hai chữ “văn” này đều có nghĩa giống nhau, nhưng GS Nguyễn Lân giải thích một "văn""vẻ bề ngoài", một “văn”lại là "văn vẻ". Thực ra “văn” ở đây nghĩa là những hiện tượng thiên nhiên. Nên có thiên văn, địa văn, thủy văn là vậy. Kính thiên văn là kính quan sát những hiện tượng thiên nhiên trên bầu trời (trăng sao, nhật thực, nguyệt thực…)
-         Run như dẽ (Dẽ là một con chim hay ăn giun, nên cũng gọi là dẽ giun. Dân gian lẫn lộn từ giun và từ run nên mới đặt ra câu này).
-         Sợ run như dẽ (Dẽ là loài chim hay ăn giun, nên gọi là dẽ giun. Ở đây, với mục đích chơi chữ, đã đồng nhất từ “giun” và từ “run”).
Hai câu này xuất hiện trong hai mục từ “R” và “S” của cuốn sách. Tuy nhiên, cùng trong một cuốn sách nhưng GS giải thích “tiền hậu bất nhất”. Ban đầu thì cho rằng “Dân gian lẫn lộn từ giun và từ run nên mới đặt ra câu này”, đến sau lại giải thích “với mục đích chơi chữ đã đồng nhất từ “giun” và từ “run”. Và điều quan trọng là cả hai cách giải thích đều sai.
10.Tư duy khái quát:
-Ướt đẫmNói mồ hôi thấm đầy vào quần áo: Tay mang khăn gói sang sông, Mồ hôi ướt đẫm, thương chồng phải theo (ca dao).
Từ “ướt đẫm”không chỉ dùng riêng để “Nói mồ hôi thấm đầy vào quần áo”. Người ta vẫn viết và nói ướt đẫm mưa, ướt đẫm nước mắt, ướt đẫm sương v.v... Ví dụ: Tàu chuối ướt đẫm sương đêm. Soạn giả mới giải nghĩa từ “ướt đẫm” trong văn cảnh cụ thể của  câu ca dao, chưa phải giải nghĩa từ vựng độc lập. Từ ướt đẫm có thể được dùng trong các trường hợp chỉ ướt đều, ướt hết, ướt mà thấm. Nghĩa từ vựng phải là nghĩa tổng quát, bao hàm để từ đó người nói, người viết có thể vận dụng vào nhiều trường hợp khác theo cách mà từ điển đã chỉ dẫn.
-Đồng ruộng. Nông thôn nói chung: Trở lại đồng ruộng xí nghiệp, công trường (PVĐồng)
“Nông thôn nói chung”có nghĩa rộng hơn“đồng ruộng” nhiều. Nó bao gồm cả cảnh quan, đường sá, ruộng đồng, làng mạc, nhà cửa....Trong khi ruộng đồng chỉ là khu ruộng, mảnh đất phục vụ cho việc cấy cày, trồng trọt mà thôi. Giống như "xí nghiệp, công trường" không phải thành thị nói chung mà là nơi làm việc của công nhân.
-Mật ít ruồi nhiều: nói tình trạng việc thì ít mà người xin làm lại nhiều.
Thực ra không chỉ nói chuyện xin việc mà là cách nói ẩn dụ, chỉ chung tất cả những tình huống cầu vượt quá cung.
-Chả nướng. Thịt lợn hoặc thịt bò thái thành miếng xỏ vào cái xiên tre rồi nướng trên than.
Nói như vậy có nghĩa món chả không làm bằng “thịt lợn hoặc thịt bò”, mà bằng thịt chó, không “xỏ vào cái xiên tre” mà lại xỏ vào cái xiên sắt để nướng sẽ không được gọi là chả nướng hay sao ? Hoặc thịt lợn không “thái thành miếng”băm nát, không “xỏ vào cái xiên tre” mà nặn thành miếng tròn bẹt, kẹp vỉ sắt, nướng lên cũng không thể gọi là chả nướng? Soạn giả nên hiểu: chả nướng bằng kẹp, bằng vỉ hay bằng xiên; dụng cụ nướng bằng tre hay bằng sắt, nướng “trên than” hay bếp điện không làm thay đổi khái niệm chả nướng. Trường hợp này có thể giải nghĩa: Chả nướng: thịt thái thành miếng hoặc băm nhỏ, ướp gia vị rồi nướng lên.
Nhìn chung, tư duy khái quát khi giải nghĩa từ vựng của soạn giả chưa tốt. Bởi thế, nhiều khái niệm đáng lẽ được giải quyết theo hướng mở, bao hàm hơn, vừa đúng, vừa đủ lại bị soạn giả hạn chế đóng chặt, khép kín bằng những ngôn từ quá cụ thể.
11.Tư duy logic có vấn đề của GS Nguyễn Lân còn thể hiện bằng hàng loạt từ Hán Việt đã bị chọn nghĩa sai khi giải thích từng từ:
-Nhan sắc (Nhan: mặt; sắc: màu - Nghĩa đen: màu mặt) Vẻ đẹp của phụ nữ.
Chữ sắcđúng là có  một nghĩa là màu sắc. Thế nhưng trong văn cảnh này sắc lại được hiểu là sắc đẹp. Thiều Chửu giải nghĩa: “Sắc: Sắc đẹp, gái đẹp. Như hiếu sắc 好色 thích gái đẹp”. Chính GS Nguyễn Lân cũng giải thích “nhan sắc”“vẻ đẹp của phụ nữ” đấy thôi, tại sao khi giảng nghĩa lại cho rằng “sắc:màu” ?
-Hành quyết. (Quyết: phán xử) Thi hành án tử hình: tên giết người đã bị hành quyết.
Chuyện “phán xử”chỉ diễn ra ở pháp đình. Khi đã ra tới pháp trường với hai từ “hành quyết” làm gì còn chuyện phán với xét nữa ? Chữ “quyết” ()ở đây có nghĩa là xử chém.“Hành quyết” là thực hiện việc xử chém. “Hán Việt tự điển” của Thiều Chửu: “Quyết: Khơi, tháo. Vỡ đê. Xử chém (trảm quyết). | Quyết đoán. | Nhất quyết, như quyết ý 決意, quyết tâm  決心, v.v. Cắn. Dứt, quyết liệt”. Chính GS Nguyễn Lân đã giải thích “hành quyết”“thi hành án tử hình” cơ mà ?Nghĩa thứ 3 của “quyết”, Thiều Chửu cũng đã chỉ ra rành rành. Ngay một người không được học chữ Hán, bằng tư duy logic của mình sẽ biết chọn nghĩa thứ 3, ghép cho từ “hành quyết”. Vậy mà GS Nguyễn Lân, một Nhà biên soạn từ điển lại không tiếp cận được, kể cũng là điều kỳ lạ !
Ta lấy ví dụ thế này: giải thích từ Ấm chén: Ấm và chén, dụng cụ pha trà, uống ước nói chung. Từ "chén"tiếng Việt có 4 nghĩa: 1.ăn; 2.cái chén uống nước, 3.cái bát ăn cơm; 4.thang thuốc đông y... Vậy tìm nghĩa từ "chén"trong "ấm chén" tất phải chọn nghĩa thứ 3.cái chén uống nước. Nếu có người chọn nghĩa thứ 1, hoặc thứ 3, thứ 4 cho từ chén trong "ấm chén" đó là sản phẩm của một tư duy phi logic ! (Trong các bài “Hai cuốn từ điển rất có hại cho tiếng Việt”“Đọc lướt Từ điển từ và ngữ Việt Nam” tác giả Lê Mạnh Chiến và An Chi đã chỉ ra hàng trăm lỗi giải nghĩa từ Hán Việt, trong đó phần lớn GS Nguyễn Lân mắc lỗi bởi tư duy kiểu này).
Đến đây, bạn đọc đã đi cùng chúng tôi qua 5 kỳ “Thử lý giải ...”. Sai sót của GS Nguyễn Lân do nhiều nguyên nhân. Trong đó có tư duy, một tư duy phi logic. Tuy nhiên, tại sao một “Giáo Sư, Nhà giáo nhân dân, Nhà biên soạn từ điển, học giả nổi tiếng của Việt Nam” (đánh giá của  Bách khoa toàn thư mở Wikipedia) lại có kiểu tư duy như vậy, mắc những sai sót như vậy ? Điều này chúng tôi không lý giải được !
                                                                                              H.T.C
Kỳ sau
Tiếng mẹ đẻ

Thứ Bảy, 8 tháng 3, 2014

A lô A lô... Bạn văn 2 đã ra lò!

Tiếp theo Bạn văn 1 do nxb Trẻ ấn hành, Nhà sách Phương Nam và Nxb Hội nhà văn vừa cho ra mắt Bạn văn 2. Bìa sách bạn văn 2 hơi giống bìa sách Bạn văn 1, chỉ khác có màu nền và con số 2 nhỏ xíu, tui sợ mọi người không nhận ra, tưởng đó là Bạn văn 1 không mua nữa, hu hu.

Bạn văn 2 tiếp tục mạch chuyện của bạn văn 1, viết về các văn nghệ sĩ mà tui quen biết, với giọng khẩu văn quen thuộc. Sách có bán trên thị trường sách cả nước. Dưới đây là danh sách các cửa hàng sách của Phương Nam có bán Bạn văn 2. Bà con lưu ý, tui không bán sách, tui chỉ rao giùm cho Nhà sách Phương Nam, có gì cần hỏi xin cứ phone thẳng tới Nhà sách Phương Nam.




TỔNG PHÁT HÀNH
Công ty Văn Hóa Phương Nam
Lầu 7, 212 Lý Chính Thắng, Phường 9, Quận 3, TP.HCM
ĐT: (08) 35261616 - ext 307 - Fax (08) 35264022
Email: sach@pnc.com.vn; Website: www.pnc.com.vn

° Tp. Hồ Chí Minh:
* Nhà sách Phương Nam Phú Thọ: 940 Đường Ba Tháng Hai, P.15, Q.11 - ĐT: 38.644.444, Fax: 38.663.449.
* Nhà sách Phương Nam Đại Thế Giới: 105 Trần Hưng Đạo B, P.6, Q.5 - ĐT: 38.570.407, Fax: 38.536.090.
* Nhà sách Phương Nam Lê Lợi: Saigon Centre (tầng 2), 65 Lê Lợi, Q.1 - ĐT: 38.217.131, Fax: 39.151.475.
* Nhà sách Phương Nam Nguyễn Oanh: 03 Nguyễn Oanh, P.10, Q. Gò Vấp - ĐT: 39.896.664 - 39.896.659, Fax: 39.896.660.
* Nhà sách Phương Nam Nguyễn Thái Sơn:86A Nguyễn Thái Sơn, P.3, Q. Gò Vấp - ĐT: 38.943.246, Fax: 39.850.287.
* Nhà sách Phương Nam Nguyễn Kiệm:Co.opMart (tầng 2), 571 Nguyễn Kiệm, P.9, Q. Phú Nhuận - ĐT: 38.479.590, Fax: 39.971.434.
* Nhà sách Phương Nam Phú Mỹ Hưng:S1-S3 Khu phố Sky Garden 1, Nguyễn Văn Linh, Q.7 - ĐT: 54.102.474, Fax: 54.102.475.
* Nhà sách Phương Nam Cộng Hòa:Maximark 15-17 Cộng Hòa, P.4, Q.Tân Bình - ĐT: 38.449.820, Fax: 38.112.319.
* Nhà sách Phương Nam Parkson Hùng Vương: TTTM Parkson (tầng 2), 126 Hùng Vương, Q.5 - ĐT: 22.220.225, Fax: 22.220.225.
* Nhà sách Phương Nam An Phú:Siêu thị An Phú (tầng 2), 43 Thảo Điền, P. Thảo Điền, Q.2 - ĐT: 37.446.985, Fax: 37.446.987.
* Nhà sách Phương Nam Tân Sơn Nhất: Ga đi Quốc Nội, Sân bay Quốc tế Tân Sơn Nhất, P.2, Q. Tân Bình - ĐT: 35.470.494.
* Nhà sách Phương Nam Ebook Vincom: TTTM Vincom (tầng B2), 72 Lê Thánh Tôn, P. Bến Nghé, Q.1 - ĐT: 38233549.
* Nhà sách Phương Nam Rạch Miễu: 48 Hoa Sứ, phường 7, quận Phú Nhuận, Tp.HCM - ĐT: 35176521, Fax: 35176520
* Phương Nam Online:www.nhasachphuongnam.com - Hotline: 1900 6656.
° CẦN THƠ: Nhà sách Phương Nam - Cần Thơ: 06 Hòa Bình, P. An Cư, Q. Ninh Kiều, TP. Cần Thơ - ĐT: (0710) 3.813.436 - (0710) 3.813.214, Fax: (0710) 3.813.437.
° NHA TRANG:
* Nhà sách Phương Nam - Nha Trang: 17 Thái Nguyên, P. Phước Tân, TP. Nha Trang, Khánh Hòa - ĐT: (058) 3.563.415, Fax: (058) 3.819.958.
* Nhà sách Phương Nam - Cam Ranh: Ga đi Sân bay Cam Ranh, TP Nha Trang, Khánh Hòa - ĐT: 058.3703116.
° Đà Lạt:
* Nhà sách Phương Nam - Đà Lạt: 18-20 Khu Hòa Bình, TP. Đà Lạt, Lâm Đồng - ĐT: 0633547547, Fax: 063-3822264.
* Nhà sách Phương Nam Liên Khương: Ga đi Sân bay Liên Khương, H. Đức Trọng, Lâm Đồng.
° ĐÀ NẴNG: * Nhà sách Phương Nam - Đà Nẵng:252-254, Lê Duẩn, TP. Đà Nẵng - ĐT: (0511) 3.821.470 - 3817.017, Fax: (0511) 3.817.037.
* Nhà sách Phương Nam Kiot Ga Đà Nẵng: Kios Ga Đà Nẵng, 200 Hải Phòng, Thanh Khê, TP. Đà Nẵng
* Nhà sách Phương Nam - Sân bay Đà Nẵng: Ga đi Quốc Nội, Cảng Hàng không Quốc tế Đà Nẵng.
° QUẢNG NAM: Hội An thư quán: 06 Nguyễn Thị Minh Khai, TX Hội An, Quảng Nam - ĐT: (0510) 3.916.272, Fax: (0510) 3 .916271.
° QUẢNG NINH: TTVH Điện ảnh Quảng Ninh, Phố Nhà hát, P. Hồng Gai, TP. Hạ Long, Quảng Ninh - ĐT: (033) 3.819.529.
° HUẾ:
* Nhà sách Phương Nam Phú Xuân: 131-133 Trần Hưng Đạo, TP. Huế, Thừa Thiên Huế - ĐT: (054) 3.522.000 - (054)3.522.001, Fax: (054) 3.522.002.
* Nhà sách Phương Nam Phú Bài:Ga đi Sân bay Phú Bài, Khu 8, P. Phú Bài, xã Hương Thủy, Thừa Thiên Huế - ĐT: (054) 3.955.446.
* TTVH Phương Nam - Làng nghề Huế: 15 Lê Lợi, TP. Huế, Thừa Thiên Huế - ĐT: (054) 3.946.766, Fax: (054) 3.946.768.
° HÀNỘI:
* Nhà sách Phương Nam Garden Mall: TTTM Garden Mall (S3-08 tầng 3), đường Mễ Trì, xã Mễ Trì, H. Từ Liêm, Hà Nội, ĐT: (04) 37.876.434, Fax: (04) 37.876.433.
* Nhà sách Phương Nam Vincom: Vincom Galleries (tầng 4), 114 Mai Hắc Đế, Hai Bà Trưng, Hà Nội - ĐT: (04) 22.225.238, Fax: 04 22.206.168.
° HẢI PHÒNG: Nhà sách Phương Nam - Hải Phòng: Thùy Dương Plaza (tầng 3), ngã 5 sân bay Cát Bi, P. Đông Khuê, Q. Ngô Quyền, TP. Hải Phòng - ĐT: (031) 3722.306, Fax: 3722.305.

Thứ Ba, 4 tháng 3, 2014

Đưa anh cả về trời.

Sáng nay, 4/3/2014, tại Nhà tang lễ Bộ Quốc phòng, Trường Đại học khoa học tự nhiên Hà Nội và gia đình đã tổ chức tang lễ đưa anh cả về trời. Anh cả tôi là niềm tự hào to lớn của gia đình và dòng tộc, là tấm gương cho bảy đứa em noi theo. Không dám khoe anh cả đã làm được những gì cho đời, xin bà con đọc điếu văn của nhà trường Đại học khoa học tự nhiên Hà Nội thì sẽ rõ.


Nhân đây xin cảm ơn các thầy cô, sinh viên nhiều thế hệ, các cục vụ viện, các trường đại học thuộc Bộ GD& ĐT và nhiều cơ quan đoàn thể tại Hà Nội đã tới viếng anh tôi.

Đặc biệt xin cảm ơn Hội nhà văn Việt Nam, Hội điện ảnh Việt Nam, Hội sân khấu Việt Nam, Nhà xuất bản Kim Đồng, Nhà xuất bản Hội nhà văn, Báo Lao động xã hội, báo Nhi đồng, Đoàn kịch quân đội... cùng các nghệ sĩ Lê Chức, Nguyễn Thanh Vân và các nhà văn là bạn bè thân hữu: Nguyễn Quang Thiều, Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Thành Phong, Bảo Ninh, Vi Thùy Linh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Trần Quang Đạo, Phạm Ngọc Tiến, Nguyễn Xuân Diện, Trần Đình Nam, Lê Phương Liên, Ngô Thảo, Lê Quang Sinh, Hà Đức Hạnh...
Chỉ biết cảm ơn, không biết nói gì hơn.

ĐIẾU VĂN ĐƯA TIỄN NHÀ GIÁO NHÂN DÂN, GIÁO SƯ, TIẾN SỸ KHOA HỌC NGUYỄN QUANG MỸ 

Do giáo sư tiến sĩ Phan Tấn Nghĩa, hiệu phó trường Đại học khoa học tự nhiên Hà Nội  đọc tại lễ truy điệu



Kính thưa Hương hồn Nhà giáo Nhân dân, GS. Nguyễn Quang Mỹ
Kính thưa các vị đại diện cơ quan, đoàn thể, các thế hệ sinh viên
Kính thưa toàn thể qúy vị
Kính thưa toàn thể tang quyến

Vào hồi 3 giờ 30 phút ngày 25 tháng 2 năm 2014 (tức ngày 26 tháng Giêng năm Giáp Ngọ), tại nhà riêng, Phường Ngã Tư Sở, Quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội, Nhà giáo nhân dân, Giáo sư, Tiến sỹ Khoa học Nguyễn Quang Mỹ - nguyên Thường vụ Đảng ủy, Chủ tịch Công đoàn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, nguyên Chủ nhiệm Khoa, Bí thư Chi bộ Khoa Địa lý – Địa chất, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, nguyên Chủ tịch Hội Địa lý Việt Nam, nguyên Chủ tịch Hội Hang động Việt Nam, nguyên Chủ nhiệm Khoa, Bí thư Chi bộ Khoa Địa lý, chủ nhiệm bộ môn Địa mạo, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN đã vĩnh biệt chúng ta về với cõi vĩnh hằng.

NGND Nguyễn Quang Mỹ mất đi là một tổn thất to lớn đối với sự nghiệp giáo dục đào tạo, sự nghiệp khoa học của nước nhà, là mất mát đau thương không gì bù đắp được đối với gia đình, bạn bè, đồng chí, đồng nghiệp, các thế hệ sinh viên. Trong nỗi xúc động bàng hoàng và niềm tiếc thương vô hạn, hôm nay, Đảng ủy, Ban giám hiệu, Ban chấp hành công đoàn, Hội Cựu giáo chức trường Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQGHN, Hội Địa lý Việt Nam, Hội Hang động Việt Nam, khoa Địa lý và gia đình trang trọng tổ chức lễ truy điệu và tiễn đưa NGND.GS.TSKH Nguyễn Quang Mỹ về nơi an nghỉ cuối cùng.

Kính thưa toàn thể quý vị

NGND. Nguyễn Quang Mỹ sinh ngày 20 tháng 12 năm 1939 tại thị trấn Ba Đồn, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Ông là anh cả của gia đình có 8 người con. Khi còn nhỏ, Cha công tác ở Việt Bắc xa xôi, các em đông, cậu bé Nguyễn Quang Mỹ đã từng đi bắt cá, bắt cua, đi bán nước chè xanh, kẹo bánh,... kiếm tiền giúp mẹ nuôi các em ăn học. Tuổi thơ ông là một chuỗi những ngày gian khổ, khó khăn, song đầy ắp ước mơ, hoài bão. Và chính từ cuộc sống đầy vất vả cực nhọc đó, chính vùng đất cát trắng ấy đã nuôi dưỡng, thúc giục ý chí phấn đấu vươn lên để đền đáp lại công ơn sinh thành, nuôi dưỡng của cha mẹ, của quê hương.
Giáo sư Nguyễn Quang Mỹ là một trong những nhà Trí thức Việt Nam giác ngộ cách mạng từ khá sớm. Ngay từ khi quê hương còn trong vùng bị chiếm, cậu thiếu niên Nguyễn Quang Mỹ đã tham gia du kích. Giặc đến, nhân dân sơ tán tạm thời lên vùng núi, cậu bé đã cùng đồng đội, tay súng, tay lựu đạn góp phần chặn đứng quân thù. Nguyễn Quang Mỹ vừa chăm chỉ lao động, vừa đi học, vừa tham gia dạy bổ túc văn hoá vào những giờ rảnh rỗi. Trong phong trào diệt dốt năm 1956 - 1957, Ông đã được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua ái quốc của tỉnh Quảng Bình, được Bác Hồ tặng ảnh có ký tên Người. Từ những thành tích đó, 18 tuổi, Nguyễn Quang Mỹ được đưa ra Hà Nội học tập tại trường Bổ túc Văn hoá Công Nông Trung ương và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 29 tháng 12 năm 1959.

Tính ham học hỏi, ý chí vươn lên, ý thức trách nhiệm với quê hương đất nước của người con đất Quảng Bình - Nguyễn Quang Mỹ đã được sự quan tâm, khích lệ của Đảng và Nhà nước. Năm 1961, Ông được cử đi đào tạo ở Liên Xô, học chuyên ngành Địa mạo tại Khoa Địa lý, Trường Đại học Tổng hợp Lômônôxốp, Liên Xô (cũ). Sau khi tốt nghiệp với tấm bằng Đỏ, tháng 8/1966, Ông được Bộ Đại học và Trung học Chuyên nghiệp phân công về công tác tại Khoa Địa lý - Địa chất, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.

Với ý thức trách nhiệm cao trước mọi nhiệm vụ được phân công, với những thành tích xuất sắc ngay từ những năm đầu của một nhà giáo, nhà khoa học, chỉ sau 3 năm công tác, năm 1969, Thày giáo Nguyễn Quang Mỹ đã được Nhà trường cử sang Trường Đại học Tổng hợp Lêningrat làm nghiên cứu sinh và đã bảo vệ luận án tiến sĩ năm 1971. Tới năm 1989, ông lại được cử đi làm thực tập sinh tại Đại học Tổng hợp Lômônôxốp và hoàn thành xuất sắc luận án Tiến sĩ khoa học năm 1991. Suốt những năm tháng sống và học tập ở Liên Xô, Thày Nguyễn Quang Mỹ chỉ có một điều nung nấu: phải phấn đấu rèn luyện, học tập để sau này trở về phục vụ Tổ quốc, Nhân dân.

Hơn bốn mươi năm công tác tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, nay là Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQGHN, NGND.GS. Nguyễn Quang Mỹ đã dành tất cả sức lực, tâm huyết và trí tuệ cống hiến cho ngành Địa lý – Địa chất của Việt Nam. Trong những ngày gian khó khăn của đất nước, của nhà trường, cơ sở vật chất thiếu thốn, lực lượng cán bộ còn mỏng, ông là một trong những người đầu tiên góp phần thành lập ngành Địa lý và Bộ môn Địa mạo trong Khoa Địa lý - Địa chất.

Vào những năm cuối của thập kỷ 90, bước vào thời kỳ đổi mới nền kinh tế - xã hội của đất nước, vấn đề quản lý đất đai và phát triển thị trường bất động sản nổi lên như một đòi hỏi bức thiết đối với thành công của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Ông cùng tập thể cán bộ khoa Địa lý, phối hợp với các cán bộ đầu ngành của Tổng cục Địa chính mở ngành đào tạo Địa chính ở trường ĐHKHTN. Trải qua gần 20 năm, ngành này đã đào tạo cho đất nước trên 1000 cán bộ địa chính trình độ đại học và sau đại học,

Vốn là một người năng động, tích cực trong mọi mặt đời sống, nhạy bén với mọi phong trào tập thể và công việc của người cán bộ khoa học trong mọi giai đoạn phát triển của của bản thân, của đơn vị và của cả đất nước, lại có năng khiếu tổ chức thiên bẩm và có sức cuốn hút bạn bè, đồng nghiệp trong thực thi nhiệm vụ được giao, NGND. Nguyễn Quang Mỹ luôn có mặt trên tuyến đầu cả về nhận thức cũng như thực thi nhiệm vụ.

Kể từ những ngày chập chững trên bước đường tổ chức nghiên cứu khoa học, ÔNG đã biết phát hiện những vấn đề mang tính thời sự trong ứng dụng kiến thức Địa lý vào đời sống của đất nước và đã được cấp trên tin tưởng khi giao nhiệm vụ, rồi việc nào ÔNG cũng cùng đồng đội hoàn thành thật là xuất sắc. Đó là những đóng góp cho công tác điều tra cơ bản về nguyên liệu và nền móng công trình trong xây dựng nhà máy xi măng Bỉm sơn, tuyến đập thủy điện Hòa Bình. Tiếp đến là việc thực hiện Chỉ thị 222TTg trong việc đưa thày trò khoa Địa Lý-Địa chất kết hợp với Tổng cục Địa chất thực hiện công tác đo vẽ Bản đồ Địa chất, Bản đồ Địa mạo vùng Đông Bắc. Lãnh đạo các cấp cũng không thể quên những đóng góp của ÔNG trong vai trò là Trung đoàn phó phụ trách hậu cần của Trung đoàn dân quân tự vệ trường ĐH Tổng hợp Hà Nội trong Phòng tuyến Sông Cầu trong những năm cuối thập kỷ 70.

Đền đáp sự tin tưởng, giao nhiệm vụ của Đảng và nhà nước, nhiệm vụ nào Thày giáo Nguyễn Quang Mỹ cũng cùng đồng đội hoàn thành xuất sắc về chuyên môn, đồng thời còn đem lại những kết quả hết sức khả quan về khoa học, đào tạo và tổ chức, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ. Cùng trưởng thành với ÔNG còn có sự trưởng thành của rất nhiều đồng nghiệp, những người sẽ không bao giờ quên sự động viên và giúp đỡ của ÔNG.

GS. Nguyễn Quang Mỹ là một trong những người đi đầu trong nghiên cứu xói mòn đất hiện đại và tai biến thiên nhiên ở Việt Nam, xây dựng ý tưởng bậc thang hoá trên đất trống đồi núi trọc để phát triển nông lâm nghiệp ở trung du và miền núi; Đặc biệt, Trạm nghiên cứu Xói mòn do ÔNG thiết kế và chỉ đạo thực hiện quan trắc tại Hàm Rồng thuộc tỉnh Gia Lai đã đạt được những thành công đáng ghi nhận, là một trong không nhiều các công trình khoa học Trái đất và môi trường đã được Đại tướng Võ Nguyên Giáp tới thăm hỏi, động viên. Nghiên cứu xói mòn đất đã trở thành một hướng mũi nhọn trong Khoa học Địa lý - Môi trường ở nước ta. Hiện nay đã có nhiều đề tài khoa học, nhiều Học viên cao học, Nghiên cứu sinh tiếp nối hướng nghiên cứu của Thày, đặc biệt là đã đi sâu ứng dụng công nghệ Viễn thám và hệ thông tin địa lý để nghiên cứu xói mòn đất, trong đó có Con Trai của Giáo sư.

Với cương vị là Chủ tịch Hội địa lý Việt Nam cũng như Chủ tịch Hội hang động Việt Nam, ông đã cùng với đồng nghiệp nghiên cứu những điều kiện địa lý nhiệt đới của quê hương, đất nước để tìm ra những giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai.

Trong suốt cuộc đời làm thầy, làm khoa học của mình, GS. Nguyễn Quang Mỹ luôn ấp ủ một ước mơ: khám phá những điều kỳ diệu trên mảnh đất Tổ quốc Việt Nam để đưa khoa học địa lý vào phục vụ đất nước. Là một nhà Địa mạo – Địa lý học, GS. Nguyễn Quang Mỹ không những quan tâm nghiên cứu cơ bản về karst, Ông đã sớm nhận thấy tiềm năng to lớn từ tài nguyên vùng karst, từ 1991, sau khi hoàn thành Chương trình nghiên cứu xói mòn đất, Ông đã được Bộ Khoa học và Công nghệ giao cho chủ trì đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu hang động karst phục vụ phát triển du lịch”. Đó cũng chính là khởi đầu cho hướng nghiên cứu, khám phá hang động karst ở Việt Nam, là sự vinh danh của GS không những ở trong nước mà còn cả trên thế giới. Thành công này gắn liền với quan hệ hợp tác quốc tế của Bộ môn Địa mạo với Hội Hang động Hoàng gia Anh. Ông đã tạo nên một bước ngoặt trọng đại trong khảo sát và khai thác, sử dụng hang động Việt Nam.

Với sự nhận thức sâu sắc về giá trị của hang động karst, với trách nhiệm của một nhà khoa học, năm 1993, GS. Nguyễn Quang Mỹ cùng một số đồng nghiệp đã sáng lập ra Hội Hang động Việt Nam và đến nay đã có nhiều kết quả đáng trân trọng của Hội.

Trong những năm 90, mặc dù sức khỏe của GS Nguyễn Quang Mỹ không còn tốt, song ÔNG vẫn cùng nhiều nhà địa lý - địa chất Việt Nam và trên 20 nhà khoa học, nhà thám hiểm thuộc Hội hang động Hoàng gia Anh đi khảo sát, đo vẽ được 300 hang động của Việt Nam, tập hợp trong cuốn "Kỳ quan hang động Việt Nam" in bằng hai thứ tiếng Việt và Anh giới thiệu với toàn thế giới. Sự nghiệp nghiên cứu hang động của ÔNG cùng đồng nghiệp là cơ sở cho việc xây dựng Hồ sơ di sản thiên nhiên thế giới – Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, được UNESCO công nhận.

Kính thưa Hương hồn Giáo sư Nguyễn Quang Mỹ, hiện nay nhà trường đang làm thủ tục và tháng Ba này, Hội Hang động Hoàng gia Anh, với những người bạn gắn bó với Ông trong hơn hai chục năm qua lại đến với Quảng Bình, Ông không còn được chỉ đạo, được cùng chung những chia sẻ khó khăn, những hân hoan khi những hang động mới được phát hiện nữa, song mọi người sẽ mãi nhớ về ông – người tiên phong trong nghiên cứu hang động karst ở Việt Nam.

Sự nghiệp nghiên cứu khoa học của GS, Nguyễn Quang Mỹ đã để lại một di sản đồ sộ với trên 60 công trình nghiên cứu khoa học được đăng tải trên các tạp chí trong và ngoài nước, báo cáo ở các hội nghị khoa học quốc gia và quốc tế, trên 30 đề tài nghiên cứu khoa học các cấp, chủ biên hoặc tham gia viết 15 giáo trình và sách chuyên khảo. Đó là kết quả của một quá trình lao động không biết mệt với những năm tháng say mê tìm tòi, nghiên cứu, khảo sát thực địa với biết bao gian nan, vất vả, nguy hiểm.

GS. Nguyễn Quang Mỹ đã truyền cho sinh viên niềm đam mê và phấn đấu xây dựng một ngành Địa lý vững mạnh. Ông từng tâm sự: "Nếu có kiếp sau, tôi vẫn tiếp tục lao động, sáng tạo hết mình tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQGHN. Tại mái trường này, tôi đã trưởng thành, đã được học tập nhiều từ bạn bè, đồng nghiệp, được cống hiến sức mình cho sự nghiệp trồng người và cho nghiên cứu khoa học - đó là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của tôi". Dưới sự giảng dạy, hướng dẫn tận tình của ông, hàng trăm sinh viên đã hoàn thành xuất sắc khoá luận tốt nghiệp, hàng chục học viên cao học, nghiên cứu đã bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ. Các thế hệ học trò của Thày Nguyễn Quang Mỹ hiện đang công tác ở các cơ quan, lĩnh vực khác nhau, có mặt trên mọi nẻo đường đất nước vẫn đang tiếp nối sự nghiệp khoa học mà NGƯỜI đã truyền thụ, hôm nay đều đang kính cẩn kính viếng Thày.

Hơn Bốn mươi năm cống hiến cho sự nghiệp cách mạng, GS. Nguyễn Quang Mỹ đã nhận được nhiều phần thưởng cao quý của Đảng và nhà nước. Ông đã được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Ba; Huân chương Lao động hạng Nhất, hạng Hai, hạng Ba, Huy hiệu 50 tuổi Đảng và nhiều huân - huy chương, bằng khen khác. Với những đóng góp hết sức lớn lao cho sự nghiệp đào tạo, năm 2010, Ông đã được Nhà nước trao phần thưởng cao quý nhất của người Thày - Nhà giáo Nhân dân.

Dù trong hoàn cảnh công tác nào, ở cương vị nào và trong cuộc sống đời thường, NGND.GS. Nguyễn Quang Mỹ đều gần gũi, ân cần động viên đồng nghiệp giữ vững đoàn kết nội bộ, giúp nhau vươn lên để hoàn thành trách nhiệm của Nhà trường, đất nước và gia đình. ÔNG toát lên trọn vẹn những nét đặc trưng của cốt cách người Thày: khảng khái, nghĩa khí, bình dị, thủy chung, sâu nặng nghĩa tình. Mặc dù thoát ly gia đình từ sớm, sống, công tác và học tập chủ yếu ở Thủ đô và nhiều năm ở nước ngoài, ÔNG vẫn luôn đau đáu tình thương và thể hiện rất nhiều nghĩa cử cụ thể hướng về quê hương xứ sở. Lãnh đạo và nhân dân Quảng Bình tự hào về ÔNG – một Nhà giáo, một nhà khoa học lớn của đất nước và không bao giờ có thể quên công lao của ÔNG cùng đồng nghiệp là những người đầu tiên khám phá, nghiên cứu và giới thiệu về Di sản thiên nhiên thế giới Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng với toàn thế giới.

Trong cuộc sống gia đình, ÔNG đã dành trọn tình yêu thủy chung cùng Chị Hòe, vượt qua mọi khoảng cách không gian và thời gian, vun đắp dựng xây một gia đình Hạnh Phúc.

Càng khâm phục một trí tuệ sắc sảo, qúy mến một tâm trong sáng và đầy tình thương, trong lòng mỗi CBCNV trường Đại học Khoa học Tự nhiên cũng như bạn bè, đồng chí, đồng nghiệp càng dâng trào nỗi đau đớn và tiếc nuối trước sự ra đi qúa đỗi đột ngột của NGND.GS. Nguyễn Quang Mỹ.

Thày Nguyễn Quang Mỹ kính yêu! Cho đến lúc này, chúng tôi vẫn không thể tin được THÀY đã vĩnh viễn đi xa. Cách đây chưa đầy một tháng, trong dịp Tết GIÁP NGỌ tới chúc tế Thày, nhiều cán bộ, học trò còn được nghe giọng nói đầy nhiệt huyết và trẻ trung như tính cách riêng của Thày, đã tâm sự dặn dò thế hệ trẻ của Khoa, Trường không bao giờ “chọn việc nhẹ nhàng”. Cuộc đời Thày chỉ duy nhất chọn một việc nhẹ nhàng, đó là cách Thày ra đi về cõi vĩnh hằng, để không muốn cho người thân phải nhọc nhằn, khiến cho mọi người thật đau thương sửng sốt nhưng càng thêm cảm phục Thày - đến phút cuối cùng vẫn luôn vì mọi người một cách chu đáo, trọn vẹn.
Kính thưa Chị Nguyễn Thị Thu Hòe

Chúng tôi thấu hiểu và xin chia sẻ nỗi đau thương mất mát lớn lao này của Chị và gia đình. Chị đã mất đi một người bạn đời chung thủy sắt son, nghĩa nặng tình sâu, gia đình ta mất đi một cây cao bóng cả từng tỏa mát tình thương mấy mươi năm qua. Thày Nguyễn Quang Mỹ đã sống trọn nghĩa vẹn tình, đầy yêu thương và trách nhiệm với Chị và gia đình cho đến giờ phút cuối cùng, ra đi yên tâm và thanh thản, vì Anh hiểu Chị sẽ giúp ANH tiếp tục làm chỗ dựa cho cả gia đình, như Chị đã từng làm chỗ dựa cho Anh toàn tâm, toàn ý cống hiến cho đất nước. Một lần nữa mong chị hãy nén đau thương, vượt qua thử thách tinh thần khắc nghiệt này, giữ gìn sức khỏe, sớm ổn định cuộc sống để Anh được yên giấc ngàn thu.

Kính thưa toàn thể quý vị

Trong giờ phút xúc động này, mỗi đồng chí, đồng nghiệp, các thế hệ học trò của GS. Nguyễn Quang Mỹ không chỉ đau buồn sâu sắc mà còn nghĩ về trách nhiệm đối với người đã khuất để tiếp tục phấn đấu cho sự phát triển như mong ước của THÀY. Gia đình, bạn bè, thân bằng quyến thuộc của THÀY không chỉ tiếc thương vô hạn mà còn khắc sâu trong lòng tình nghĩa một thời để sống trọn vẹn nghĩa tình mãi mãi.

Xin vĩnh biệt Thày Nguyễn Quang Mỹ, người Đảng viên Cộng sản son sắt, một Nhà giáo Nhân dân ưu tú nhất, nhà khoa học xuất sắc nhất của Việt Nam. Xin vĩnh biệt một con người đầy trí tuệ, bản lĩnh, đạo đức trong sáng, tình nghĩa thủy chung.

Xin các đồng chí và qúy vị giành một phút mặc niệm để tưởng nhớ Nhà giáo nhân dân, GS.TSKH. Nguyễn Quang Mỹ và cầu chúc cho ÔNG được yên giấc ngàn thu. Một phút mặc niệm bắt đầu.

Chủ Nhật, 2 tháng 3, 2014

Cáo phó

Trường Đại học khoa học tự nhiên Hà Nội, Hội địa lý Việt Nam, Hội hang động Việt Nam cùng gia đình thương tiếc báo tin:

Ông NGUYỄN QUANG MỸ
Giáo sư, Tiến sỹ Khoa học
Nhà giáo Nhân dân, Giảng viên cao cấp
Chủ tịch Hội Địa lý Việt Nam
Chủ tịch Hội Hang động Việt Nam
Chủ nhiệm Khoa Địa lý - Địa chất (1984 - 1988)
Chủ nhiệm Khoa Địa lý (1996 - 2000)
55 tuổi đảng
 Từng là  đảng ủy viên đảng bộ Trường đại học tổng hợp Hà Nội

Nghỉ hưu năm: 2005
Sinh: 20/12/1936 tại thị trấn Ba Đồn, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, cư trú tại Khu Tập thể Vĩnh Hồ, Quận Đống Đa, Hà Nội.
Sau thời gian bị lâm bệnh nặng, đã từ trần vào lúc 3 giờ 15 phút sáng ngày 25/2/2014.
----
Lễ Viếng, Lễ truy điệu tổ chức tại Nhà Tang lễ Bộ Quốc phòng, số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội.
Bắt đầu từ 7 giờ 30 sáng ngày 4/3/2014 ( nhằm 4/2 Giáp Ngọ) tổ chức Lễ viếng.
Bắt đầu từ 10 giờ tổ chức Lễ truy điệu.
-----------------------------------------------------------------------------------

BÀI VIẾT VỀ NHÀ GIÁO, GSTS NGUYỄN QUANG MỸ TRONG SÁCH" MỘT TRĂM CHÂN DUNG- MỘT THẾ KỶ" nhân kỷ niệm 100 năm thành lập ĐHQGHN (1906 – 2006).

Tôi đã từng nghe nhiều về ông - chuyên gia hang động Việt Nam hay ông vua của hang động Việt Nam, nhưng đến khi được gặp ông, chuyện trò cùng ông tôi mới cảm nhận được sự uyên thâm trong từng câu nói, từng cử chỉ cẩn trọng của một người nghiên cứu khoa học, một nhà giáo lâu năm...
GS.TS.NGƯT Nguyễn Quang Mỹ sinh năm 1939 tại Ba Đồn (Quảng Bình). Ông là anh cả của gia đình có 8 người con, trong đó có các nhà văn kiêm nhà báo Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Quang Vinh. Tuổi thơ ông là một chuỗi những ngày gian khổ, khó khăn, song đầy ắp ước mơ, hoài bão. Và chính từ cuộc sống đầy vất vả cực nhọc đó, chính vùng đất cát trắng ấy đã nuôi dưỡng, thúc giục ý chí phấn đấu vươn lên để đền đáp lại công ơn sinh thành, nuôi dưỡng của cha mẹ, của quê hương.

Khi còn nhỏ, cha công tác ở Việt Bắc xa xôi, đồng lương của cha được trả bằng thóc ở địa phương, các em đông, cậu bé Nguyễn Quang Mỹ đã từng phải đi bán nước chè xanh, kẹo bánh, sách vở... kiếm tiền giúp mẹ nuôi các em ăn học. Bên dòng sông Gianh xanh biếc, hiền hoà, những lúc nước cạn, cùng với bạn bè cậu bé Mỹ lại đi bắt cá, bắt cua... để tăng thêm "chất đạm" cho bữa cơm đạm bạc trên miền quê cát trắng. Nói "cơm" cho oai chứ khoai khô xéo, khoai củ luộc coi như những bữa ăn "trường kỳ". Cuộc sống cứ như vậy, kéo dài đến hết thời kỳ giảm tô và cải cách ruộng đất. Đông xuân 1952 - 1953 do chiến tranh ác liệt, gia đình chạy giặc, cậu bé Mỹ lúc đó đã dắt dìu ba em nhỏ tay bồng, tay bế đi xin kiếm ăn nơi đất khách quê người và một tháng sau đó thì được tổ chức đưa trở lại chiến khu...

Thời gian quê hương còn trong vùng bị chiếm, cậu thiếu nhi Nguyễn Quang Mỹ đã tham gia du kích. Giặc đến, nhân dân sơ tán tạm thời lên vùng núi, cậu bé đã cùng đồng đội, tay súng, tay lựu đạn góp phần chặn đứng quân thù giày xéo quê hương. Nguyễn Quang Mỹ vừa chăm chỉ lao động, vừa đi học, vừa tham gia dạy bổ túc văn hoá vào những giờ rảnh rỗi. Trong phong trào diệt dốt năm 1956 - 1957, Nguyễn Quang Mỹ đã được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua ái quốc của tỉnh Quảng Bình, được Bác Hồ tặng ảnh có ký tên Người. Từ những thành tích đó, 18 tuổi, Nguyễn Quang Mỹ được đưa ra Hà Nội học tập tại trường Bổ túc Văn hoá Công nông - mái trường cách mạng sau chiến tranh chống Pháp và được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam năm 1959.

Năm 1961, Nguyễn Quang Mỹ được đưa đi đào tạo ở Liên Xô, học tại Khoa Địa lý, Trường Đại học Tổng hợp Lômônôxốp. Năm 1964, nghe tin giặc Mỹ đánh phá quê hương dữ dội, Nguyễn Quang Mỹ đã lấy máu viết thư về xin gia nhập Quân đội nhân dân Việt Nam để chiến đấu bảo vệ quê hương, đất nước, nhưng tâm nguyện này của ông đã không được đáp ứng. Việt Nam đang cần những con người có tri thức để phục vụ đất nước. Ở lại Liên Xô, Nguyễn Quang Mỹ đã dồn sức vào học tập, tu dưỡng và hoàn thành tốt việc học tập của mình. Năm 1966, ông tốt nghiệp chuyên ngành Địa mạo tại Trường Đại học Tổng hợp Lômônôxốp.

Tháng 8.1966, cậu sinh viên vừa tốt nghiệp đại học ở Liên Xô về được Bộ Đại học và Trung học Chuyên nghiệp phân công về công tác tại Khoa Địa lý - Địa chất, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Nhiệm vụ đầu tiên anh được giao là làm Bí thư khoa, trợ lý đắc lực giải quyết mọi công việc sự vụ giúp GS. NGND Nguyễn Văn Chiển - Chủ nhiệm khoa.

Năm 1969, ông được Nhà trường cử sang Trường Đại học Tổng hợp Lêningrat làm nghiên cứu sinh và bảo vệ luận án tiến sĩ năm 1971. Tới năm 1989, ông lại được cử đi làm thực tập sinh tại Đại học Tổng hợp Lômônôxốp và hoàn thành luận án tiến sĩ khoa học năm 1991. Tại Đại học Tổng hợp Lômônôxốp, Nguyễn Quang Mỹ đã có được một vinh dự lớn - vinh dự được lần thứ ba gặp Bác Hồ, sau hai lần gặp Bác về thăm trường Bổ túc Công nông Trung ương. Trong buổi nói chuyện với sinh viên Việt Nam học tập ở Matxcơva, Bác Hồ có dặn: "Các cháu phải học giỏi để sau này phục vụ Tổ quốc được tốt"... Ông hiểu: Tổ quốc đã gửi gắm rất nhiều hy vọng vào những người được cử sang Liên Xô thời điểm ấy, trong đó có ông, và ông đã ghi nhớ lời dặn đó, thực hiện và coi đó như một phương châm sống của mình. Suốt những năm sống và học tập ở Liên Xô (11 năm, tuy không liền mạch), Nguyễn Quang Mỹ chỉ có một điều nung nấu: phải phấn đấu rèn luyện, học tập để sau này trở về phục vụ Tổ quốc.

GS. Nguyễn Quang Mỹ được phong học hàm Phó giáo sư năm 1984, Giáo sư năm 2002 và được tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú năm 1994.

Gần bốn mươi năm công tác tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, nay là Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQGHN, GS. Nguyễn Quang Mỹ đã dành tất cả sức lực, tâm huyết và trí tuệ cống hiến cho ngành Địa lý - một ngành khoa học vẫn còn khá trẻ của nước ta. Trong những ngày gian khó của đơn vị, cơ sở vật chất thiếu thốn, lực lượng cán bộ còn mỏng, ông là một trong những người đầu tiên góp phần thành lập ngành Địa lý (1966) và Bộ môn Địa mạo (1972) trong Khoa Địa lý - Địa chất, và góp phần thành lập ngành Địa chính trong Khoa Địa lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQGHN ngày nay.

Ông đã trải qua nhiều cương vị công tác như: Bí thư chi bộ Khoa Địa lý - Địa chất, Chủ nhiệm Bộ môn Địa lý (1966 - 1968), Chi uỷ viên, Bí thư chi đoàn cán bộ giảng dạy Khoa Địa lý - Địa chất (1966 - 1968), Chủ nhiệm Bộ môn Địa mạo (1972 - 1981), Phó chủ nhiệm Khoa Địa lý - Địa chất (1983 - 1985), Chủ nhiệm Khoa Địa lý - Địa chất (1986 - 1988), Đảng uỷ viên, Chủ tịch công đoàn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (1986 - 1988), Phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường (1986 - 1988), Chủ nhiệm Khoa Địa lý (1996 - 2000) và nhiều khoá là Bí thư Chi bộ Khoa Địa lý (1996 - 2005).

Trong suốt cuộc đời làm thầy, làm khoa học của mình, GS. Nguyễn Quang Mỹ luôn ấp ủ một ước mơ: khám phá những điều kỳ diệu trên mảnh đất Tổ quốc Việt Nam để đưa khoa học địa lý vào phục vụ đất nước; nghiên cứu hang động phục vụ du lịch và các ngành kinh tế khác. Và tới nay, ông đã làm được điều đó. Ông trở thành một trong những người đi đầu trong nghiên cứu xói mòn đất hiện đại ở Việt Nam xây dựng ý tưởng bậc thang hoá trên đất trống đồi núi trọc để phát triển nông lâm nghiệp ở trung du và miền núi; đồng thời là một trong những người đầu tiên nghiên cứu tai biến thiên nhiên từ năm 1991, nghiên cứu hang động phục vụ các ngành kinh tế từ năm 1972 đến nay.

GS. Nguyễn Quang Mỹ đã từng giảng dạy các môn: Địa mạo đại cương, Địa mạo động lực, Tai biến thiên nhiên và Hang động học. Ông thực sự chuyên về hang động từ năm 1991. Đó cũng là lúc việc khảo sát hang động Việt Nam có một bước ngoặt trọng đại. Năm ấy ông Howard Limbert, thành viên Hiệp hội Nghiên cứu Hang động Anh, một tổ chức nằm trong Hội Địa lý Hoàng gia Anh viết thư cho các tổ chức địa lý của Việt Nam, Lào đề nghị phối hợp khảo sát hang động. Ba lá thư gửi đi nhưng họ chỉ nhận được lá thư trả lời duy nhất của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Người hồi âm là Chủ nhiệm Khoa Địa lý - Địa chất, GS. Nguyễn Quang Mỹ.

Chuyến đầu tiên phối hợp khảo sát hang động giữa Anh và Việt Nam diễn ra vào năm 1991 thành công và đã đưa hang Phong Nha ra ánh sáng, không chỉ với người trong nước mà toàn thế giới. Từ đấy đến nay đã có 10 đợt khảo sát phối hợp như thế ở nhiều tỉnh Hoà Bình, Cao Bằng, Quảng Ninh, Quảng Bình, Ninh Bình, Hà Giang... Các báo cáo thăm dò, kèm theo số liệu khảo sát và những ảnh chụp tuyệt đẹp được công bố trên nhiều số của tạp chí "Người thám hiểm hang động quốc tế" đã thu hút nhiều người tới các hang động Việt Nam. Cũng sau chuyến khảo sát năm 1991, với nỗ lực của mình, GS. Nguyễn Quang Mỹ đã xin được của Nhà nước một đề tài nghiên cứu hang động kéo dài 5 năm (1991 - 1995), nhờ đó các nhà nghiên cứu hang động Việt Nam đã lập hồ sơ khoa học của 300 hang lớn nhỏ. Và năm 1993, GS. Nguyễn Quang Mỹ cùng một số đồng nghiệp đã sáng lập ra Hội Hang động Việt Nam. Ông tâm sự: "Tôi được đào tạo chuyên sâu về địa mạo karst ở Liên Xô, cũng đã từng bốn năm lăn lộn với vùng đá vôi Bắc Sơn - Lạng Sơn trong vai trò người thăm dò địa chất, nhưng phải đến khi sang một số nước Âu - Mỹ, nhất là nước Anh, chứng kiến "phong trào" nghiên cứu và thám hiểm hang động của người dân các nước ấy tôi mới giật mình. Ở Anh, ngoài chợ chỗ nào cũng bày bán các dụng cụ bảo hiểm vào hang. Chỉ cần vài chục mét hang là người ta kéo đến rần rần. Ngay sát mình đây, Thạch Lâm ở huyện Lu Nan tỉnh Vân Nam - Trung Quốc, địa hình giống hệt vùng "cao nguyên đá" Đồng Văn - Hà Giang nhà mình, hàng năm họ kiếm được 600 - 700 triệu USD nhờ du lịch hang động. Trong khi đó nước ta có biết bao nhiêu vùng địa mạo karst, là một tài nguyên rất lớn cho "nền công nghiệp không khói" mà vẫn chưa được biết đến... Bắt tay vào nghiên cứu lĩnh vực hang động học, chúng tôi chỉ mong rằng sẽ góp được phần sức lực nhỏ bé của mình vào sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước".

GS. Nguyễn Quang Mỹ cùng 15 nhà địa lý - địa chất Việt Nam và 20 nhà khoa học người Anh thuộc Hội hang động Hoàng gia Anh đã khảo sát, đo vẽ được 300 hang động của Việt Nam tập hợp trong cuốn "Kỳ quan hang động Việt Nam" in bằng hai thứ tiếng Việt và Anh, kèm theo 209 ảnh màu và nhiều bản đồ, bản vẽ do ông và ngài Haward Limbert cùng chủ biên, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQGHN và Trung Tâm Bản đồ và Tranh ảnh Giáo dục xuất bản.

Tên tuổi của GS.TSKH Nguyễn Quang Mỹ được người ta biết đến nhiều bắt đầu từ năm 1997, tại Đồng Hới, Quảng Bình, trong một hội thảo khoa học, ông đứng ra tuyên bố những số liệu chấn động giới khoa học về danh thắng Phong Nha - Kẻ Bàng. Với những cái nhất mà ông chỉ ra: vùng đá vôi có tuổi địa chất già nhất (300 - 400 triệu năm), rừng nguyên sinh rộng nhất hơn 20 vạn ha, cửa hang cao và rộng nhất, dòng sông ngầm xuyên núi dài nhất, Phong Nha - Kẻ Bàng được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới năm 2003. Đây là một tin vui tuyệt vời đối với các nhà nghiên cứu hang động như GS. Nguyễn Quang Mỹ và với nhân dân Việt Nam. Chính nhờ những chuyến khảo sát ấy, rồi sự công nhận của UNESCO, hàng chục bài báo được công bố trên thế giới, cuốn hút nhiều du khách và nhà nghiên cứu tới Phong Nha - Kẻ Bàng. Theo Ban quản lý di tích động Phong Nha, mỗi năm có hàng trăm ngàn lượt du khách đến tham quan. Phong Nha - Kẻ Bàng được bạn bè nhiều nước trên thế giới biết đến, Việt Nam có thêm một danh lam thắng cảnh, một khu du lịch nổi tiếng, đó là nhờ một phần đóng góp tích cực của GS. Nguyễn Quang Mỹ - chuyên gia về hang động học, người đã dành nhiều công sức, tâm huyết cho ngành khoa học này.

Những điều đã đạt được và cả những bài học rút ra sau những lần thất bại trong tìm tòi nghiên cứu khiến GS. Nguyễn Quang Mỹ càng có thêm động lực, đam mê trong công việc. Ông đã từng nói: "Với nghề hang động cần phải giàu lòng can đảm và kiên trì". Quả đúng là như vậy! Ông đã lăn lộn hầu hết các miền đất nước để tìm hiểu, nghiên cứu điều kiện phát sinh và phát triển địa hình, các quá trình tai biến thiên nhiên và đề ra những phương pháp giảm thiểu. Những năm gần đây, với cương vị là Chủ tịch Hội địa lý Việt Nam cũng như Chủ tịch Hội hang động Việt Nam, ông đã cùng với đồng nghiệp nghiên cứu những điều kiện địa lý nhiệt đới của quê hương, đất nước để tìm ra những giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên.

Cho tới nay, ông đã có một khối lượng công trình khoa học đồ sộ với 40 công trình nghiên cứu khoa học đăng tải trên các tạp chí trong và ngoài nước, gần 20 báo cáo khoa học được công bố ở các hội nghị khoa học quốc gia và quốc tế, 28 đề tài nghiên cứu khoa học các cấp, chủ biên hoặc tham gia viết 6 giáo trình và cùng đồng nghiệp xuất bản 9 sách chuyên khảo. Đó là kết quả của một quá trình lao động không biết mệt với những năm tháng đi thực địa thu thập tài liệu gặp biết bao nhiêu gian nan, vất vả, nguy hiểm. Dưới sự hướng dẫn tận tình của ông, hàng trăm sinh viên đã hoàn thành xuất sắc khoá luận tốt nghiệp, nhiều học viên cao học đã bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ, 10 nghiên cứu sinh đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ Địa lý.

Dù trong hoàn cảnh công tác nào, GS. Nguyễn Quang Mỹ đều gần gũi, ân cần động viên đồng nghiệp giữ vững đoàn kết nội bộ, giúp nhau vươn lên để hoàn thành tốt nhiệm vụ. Ông đã truyền cho sinh viên niềm đam mê và phấn đấu xây dựng một ngành Địa lý vững mạnh. Ông tâm sự: "Nếu có kiếp sau, tôi vẫn tiếp tục lao động, sáng tạo hết mình tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQGHN. Tại mái trường này, tôi đã trưởng thành, đã được học tập nhiều từ bạn bè, đồng nghiệp, được cống hiến sức mình cho sự nghiệp trồng người và cho nghiên cứu khoa học - đó là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của tôi".

Bốn mươi năm tuổi nghề - GS. Nguyễn Quang Mỹ đã có 8 năm đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua, 10 năm liền được công nhận Giáo viên dạy giỏi cấp cơ sở (1992 - 2002), 3 năm được công nhận giảng viên dạy giỏi cấp ĐHQGHN (1999, 2001, 2002). Ông đã được tặng 40 bằng khen các cấp; Huân chương Kháng chiến hạng Ba; Huân chương Lao động hạng Nhất, Nhì, Ba; Huy chương Vì sự nghiệp giáo dục; Huy chương Vì sự nghiệp khoa học công nghệ, Huy chương Vì sự nghiệp công đoàn, Huy chương Vì sự nghiệp Địa chất và Huy chương Vì sự nghiệp Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam.

Hoài bão và dự định GS. Nguyễn Quang Mỹ cho tương lai vẫn còn nhiều. Ông vẫn ngày đêm cố gắng tìm tòi những phương án chống xói mòn đất để bảo vệ độ phì của đất nhằm phát triển nông - lâm nghiệp; nghiên cứu, đo vẽ nhiều hang động ở các miền Tây Bắc, Đông Bắc và miền Trung, phục vụ phát triển du lịch và các ngành kinh tế khác... Những tổng kết kinh nghiệm của gần 40 năm lăn lộn trên mọi miền Tổ quốc đang được GS. Nguyễn Quang Mỹ tiếp tục trình bày trên từng trang giáo trình và sách chuyên khảo để cho thế hệ trẻ tiếp tục nghiên cứu và bổ sung.


Quá trình đào tạo
- Đại học: 1966, Trường ĐHTH Maxcơva - Liên Xô cũ
- Tiến sỹ: 1971, Trường ĐHTH Lêningrat - Liên Xô cũ
- Tiến sỹ khoa học: 1991, Trường ĐHTH Maxcơva - Liên Xô cũ
- Phó Giáo sư: 1984
- Giáo sư: 2002

Giảng dạy các giáo trình

Địa mạo động lực, Xói mòn đất hiện đại, Tai biến thiên nhiên và địa động lực hiện đại, Cơ sở sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên và môi trường.

Lĩnh vực nghiên cứu

Xói mòn đất hiện đại, nghiên cứu hang động karst phục vụ phát triển kinh tế, tai biến thiên nhiên.
Các sách đã xuất bản

1. Nguyễn Văn Chiển (chủ biên), Nguyễn Quang Mỹ và NNK. Tuyển tập về nghiên cứu Tây Nguyên, 1984. Nxb KHKT.

2. Phạm Quang Anh (chủ biên), Nguyễn Quang Mỹ và NNK. Hệ sinh thái cà phê Đắc Lắk, 1987.
3. Nguyễn Quang Mỹ (chủ trì). Atlas tài nguyên thiên nhiên kinh tế xã hội tỉnh Đắc Lắc, 1985. Nxb Cục ĐĐ bản đồ Nhà nước.

4. Lê Thạc Cán (chủ biên), Nguyễn Quang Mỹ và nnk. Việt Nam những vấn đề tài nguyên và môi trường, 1986. Nxb Nông nghiệp.

5. Nguyễn Quang Mỹ (chủ biên). Atlas hang động Việt Nam tập I, 1993. Nxb Cục ĐĐ Bản đồ Nhà nước.

6. Nguyễn Quang Mỹ, Howard Limbert (đồng chủ biên). Kỳ quan Hang động Việt Nam tập II, 2001. Nxb TT BĐ & TA GD.

7. Nguyễn Quang Mỹ. Địa mạo động lực, 2002. Nxb ĐHQG HN.

8. Nguyễn Quang Mỹ. Xói mòn đất hiện đại, 2005. Nxb ĐHQG HN.

9. Nguyễn Quang Mỹ (chủ biên), Đặng Văn Bào, Nguyễn Hiệu, Nguyễn Đức Khả, Phan Duy Ngà. Việt Nam - di sản thế giới, Vườn Quốc Gia Phong Nha - Kẻ Bàng, 2006. Nxb Trẻ.
Các bài báo, báo cáo khoa học (10 công trình tiêu biểu)

1. Nguyễn Quang Mỹ, Hoàng Xuân Cơ. Bước đầu xác định tương quan giữa mưa và xói mòn đất. Tạp chí khoa học ĐHTH Hà Nội số 4. 1985, tr. 26-33.

2. V.N. Xonxep, Nguyễn Quang Mỹ, Phạm Quang Anh. Cảnh quan hiện đại và vấn đề sử dụng hợp lý chúng ở Việt Nam. Tạp chí tài nguyên thiên nhiên của UNESCO TOM 26 số 3-4. 1990, tr. 33-45.
3. Đào Đình Bắc, Nguyễn Quang Mỹ, A.I. Spridonop và nnk. Bản đồ địa mạo Việt Nam. Tạp chí ĐHTH Maxcơva - Lomonoxốp số 2-2, xêri 5, Địa lý. 1991, tr. 101-104.

4. Nguyễn Quang Mỹ. Phân vùng xói mòn Việt Nam. Tạp chí ĐHTH Maxcơva - Lomonoxốp số 3, xêri 5, Địa lý. 1991, tr. 85-90.

5. Nguyễn Quang Mỹ, Đào Đình Bắc và nnk. Địa mạo Campuchia - Lào và Việt Nam. Tuyển tập công trình khoa học địa chất Đông Dương lần thứ 2, tập 1, 1991, tr. 85-96.

6. Lê Thạc Cán, Nguyễn Quang Mỹ. Xói mòn lưu vực các sông suối ở Việt Nam. Tạp chí các Khoa học Trái đất số 4, tập 15, 1993, tr. 103-117.

7. Nguyễn Quang Mỹ, Vũ Văn Phái. Hang động karst với mục đích du lịch. Tạp chí chuyên đề du lịch nhiệt đới,1983.

8. Nguyễn Tứ Dần, Nguyễn Quang Mỹ. Xác định hệ số lớp phủ thực vật (C) trong nghiên cứu định lượng xói mòn thông qua xử lý ảnh số. Chuyên san Địa lý. 1996, Tr. 45-49.

9. Nguyễn Quang Mỹ, Chu Đình Chính. Bước đầu xác định những nguyên nhân cơ bản gây nên tai biến thiên nhiên vùng Tây Bắc. Tạp chí Khoa học ĐHQG Hà Nội, tập 12, số 6, 1997, tr. 32-38.

10. Nguyễn Quang Mỹ, Ngô Trà Mai, Nguyễn Quang Minh. Quá trình xói mòn đất trên phạm vi đới đứt gãy sông Hồng và phụ cận. Tạp chí các KHTĐ số 1, tập 26, 2004, trang 38-42
(Nguồn: Khoa Địa lý)