Thứ Tư, 9 tháng 10, 2013

Thư gửi các học sinh cũ trường cấp 3 Bắc Quảng Trạch- Quảng Bình.

Các anh chị em thân mến!
Thầy Phạm Ngọc Căng, nguyên là giáo viên văn, hiệu phó, quyền hiệu trưởng Trường cấp 3 bắc Quảng Trạch những năm 1963-1971. Tuy đã tuổi già sức yếu thầy vẫn bỏ thời gian và công sức trong vòng 10 năm làm nên cuốn Một thời để nhớ viết về Trường cấp 3 bắc Quảng Trạch thân yêu của chúng ta.


Một thời để nhớ tập hợp tất cả những bài viết của thầy và trò từ 1964-1975, thời kì rực rỡ của Trường cấp 3 Bắc Quảng Trạch. Sách dày 356 trang, khổ 14x20 chứa đựng những kỹ niệm nặng trĩu yêu thương  một thời vẻ vang của trường ta.

Nay sách đã hoàn chỉnh về biên tập, có giấy phép, trình bày và ra bản can, chỉ cần đưa vào nhà in là xong. Dự kiến sách in 500 cuốn.

Vậy chúng tôi kêu gọi các anh chị hãy đóng góp kinh phí để cho thầy Căng in sách. Vẫn biết chúng ta ai cũng khó khăn nhưng vì công sức và tấm lòng của thầy Phạm Ngọc Căng, rất mong các anh chị kẻ ít người nhiều hãy ra tay đóng góp để cuốn Một thời để nhớ được ra đời.

Tiền chuyển khoản xin gửi về tài khoản của con rể thầy Căng:
Lê Xuân Thắng
Số tk: 422704060008232
Ngân hàng VIB

Tiền mặt xin gửi về địa chỉ:
Phạm Ngọc Căng
 Thôn 6 xã Xuân Phong- huyện Thọ Xuân
Tỉnh Thanh Hóa

Điện thoại của thầy Căng: 0165 757208

Rất mong anh chị em quan tâm đóng góp
Xin cảm ơn
Nguyễn Quang Lập

Bìa Một thời để nhớ:


Thư ngỏ của thầy Phạm Ngọc Căng

Thanh Hóa ngày 15 tháng  7 năm 2013

Thân Gửi: Các thầy cô giáo, cán bộ, học sinh đã từng công tác, học tập ở trường Phổ thông Cấp 3 Quảng Trạch những năm đầu thành lập và thời kỳ chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ ( 1962 – 1975).

Trường PT Cấp 3 Quảng Trạch, huyện Quảng Trạch có lịch sử hơn năm mươi năm. Tôi đã công tác ở trường từ năm học 1963 – 1964, đến đầu năm học 1971 – 1972 tôi chuyển công tác về Thanh Hóa, thấm thoát đã xa trường hơn bốn mươi năm, song mỗi lần nhớ đến Trường PT Cấp 3 Quảng Trạch, tôi lại nhớ đến những ngày đầu còn thiếu thốn, khó khăn và những năm chống Mỹ gian khổ, đạn bom, là nhớ đến thế hệ thầy cô giáo, cán bộ, học sinh “kiên cường chiến đấu cho An toàn – chất lượng” và thực sự đã giành được những thành tích vẻ vang nhất trong lịch sử của Trường Cấp 3 đầu tiên trên quê hương Quảng Trạch anh hùng. Năm 1966 là đơn vị xuất sắc nhất của nghành giáo dục Quảng Bình, năm 1968 là Trường PT Cấp 3 xuất sắc toàn miền Bắc, đến năm 1970 được nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động và đề nghị tuyên dương Đơn vị anh hùng.

May mắn cho tôi và một số thầy cố giáo cũ còn có cơ hội trở về thăm trường cũ trong những dịp tổ chức kỷ niệm 30 năm, 40 năm, 50 năm, được nhà trường mời về tham dự, và lần kỷ niệm 40 năm nhà trường đề nghị đến một số tỉnh có đông học sinh Quảng Trạch đang công tác và sinh sống ở đó như Hà Nội, Huế…

Đầu năm 2002 tôi vào Huế lần thứ, anh Nguyễn Vũ Tiến học sinh khóa 1966 – 1969 nay là Tiến sĩ toán học đang giảng dạy ở Đại học Huế tặng một tệp sách có tên “Nhớ mái trường xưa”, trong đó có in các bài: đăng trên báo nghành, có thư  và bài thơ “Về Quảng Trạch” của anh Võ Huy Cát viết tặng nhà trường năm 1966; và một số bài thơ của các thầy giáo, học sinh trường, tất cả hơn hai mươi trang.

Cầm trong tay tập sách, đọc xong bỗng tôi nảy sinh ý định : Với số tư liệu tôi đã tích lũy từ thời gian hơn 8 năm ở Trường, và cố gắng thu thập thêm của thầy cô giáo, học sinh cũ chắc sẽ được số lượng nhiều hơn, đa dạng thể loại hơn…

Thế là tôi trao đổi với các bạn đồng nghiệp, học sinh cũ và được số đông anh chị em nhiệt tình ủng hộ, không những thế còn đề nghị tôi đặt vấn đề với các nơi đề nghị anh chị em ghi vào bản “ thông tin cá nhân” để cho bạn bè biết tin của nhau sau nhiều năm chưa gặp lại.

Kiên trì  vận động, qua thư, qua điện thoại gặp gỡ suốt trong một thời gian dài từ năm 2001 đến 2011 đã thu được  kết quả rất đáng phấn khởi; cộng với số tư liệu của tôi được hơn ba trăm bài bút ký, hồi ký, thơ, những tờ lưu bút của bạn, những lá thứ… của những ngày còn ở trường và sau này trao đổi với nhau. Mừng quá tôi báo cho anh Nguyễn Hữu Bằng học sinh cũ nay là Tiến sĩ – Tổng cục trưởng Tổng cục đường sắt, và anh đã hỗ trợ khâu in ấn, phô tô cùng một kích thước giấy A4, phục hồi các ảnh cũ với số lượng hơn hai trăm trang. Nhưng có một hiện tượng làm tôi suy nghĩ là không có anh chị học sinh nào học ở trường từ năm 1975 trở đi tham gia. Nên ý đồ xây dựng một tập sách cho bốn mươi năm là không thực hiện được.
Khi sắp xếp xong thì việc in ấn lại bế tắc, là do thời gian sưu tầm thu thập quá dài nên đã lỡ mất cơ hội. Tôi lo lắm, điện thoại trao đổi với các anh ở các nơi, thì các anh góp ý đặt vấn đề với các Ban liên lạc ở các tỉnh hỗ trợ nhưng là bao nhiêu? Ai in ấn? và ở đâu?. Đang lúc chưa tìm ra hướng giải quyết thì vào một chiều tháng 4/2012 anh Nguyễn Xô Viết công tác ở nghành điện, là chủ dự án nhiệt điện ở khu kinh tế Nghi Sơn – Tỉnh Gia – Thanh Hóa, xin gặp tôi lúc 3h chiều tại gia đình, và anh đã đến. Qua câu chuyện biết anh là học sinh của Trường Quảng Trạch khóa 1971 – 1974 với anh Nguyễn Quang Lập con thầy Nguyễn Quang Đạng – Bí thư chi bộ đầu tiên của trường. Anh là một nhà văn được nhiều người mến mộ với tập “18 truyện ngắn và kịch bản phim truyện “Đời Cát”. Anh Viết đã đến nhà thầy Nguyễn Quang Đăng ở Xuân Trạch, Bố Trạch, và thầy Đăng giới thiệu ra Thanh Hóa gặp tôi là người hàng chục năm lưu giữ, thu thập tư liệu về trường Quảng Trạch. Sau khi xem các tư liệu tôi đã sắp xếp anh thông tin với anh Lập ở Sài Gòn qua mạng và cho biết: Anh Lập sẽ sắp xếp kế hoạch trực tiếp kiểm tra tư liệu và quyết định kế hoạch tiến hành, và anh Lập đã đến nhà tôi sáng ngày 14/9/2012.

Tôi biết anh Lập bị tai nạn rất nặng khi đang công tác ở Hà Nội và đã đến thăm, hơn mười năm chạy chữa đến nay vì yêu quý mái trường của quê hương anh đã vượt qua hàng ngàn cây số thật vất vả vô cùng vì phải chống nạng. Tôi xúc động quá! Anh đã cùng tôi xem từng trang tư liệu, từng tấm ảnh xong và đề nghị tôi sắp xếp rồi chuyển cho anh Viết đánh máy để gửi cho anh.

Trong không khí vui vẻ, cởi mở thân tình lâu ngày gặp nhau, tôi thấy các anh cứ nói xa gần như có ý thăm dò định bồi dưỡng cho tôi vì đã bỏ ra bao công sức giữ, thu thập tư liệu trong nhiều năm nay; hiểu được sự quan tâm và tấm lòng ưu ái đó, tôi rất xúc động nói luôn để các anh yên tâm: Trường PT Cấp 3 Quảng Trạch là nơi tôi đặt bước chân đầu tiên vào nghề dạy học, cũng là nơi mà tuổi trẻ của tôi được sống hơn tám năm cùng đồng nghiệp, cùng học sinh và nhân dân Quảng Trạch những ngày hòa bình và những năm gian khổ đạn bom, và cũng chính nơi đó tôi đã trưởng thành. Những kỷ niệm sâu nặng đó sống mãi trong tôi, việc làm của tôi và của một số anh chị và các anh chính là chúng ta trả nghĩa cho mái trường thân yêu và quê hương Quảng Trạch. Đó là lý do chính, còn một lý do cũng không kém  phần quan trọng là: Mỗi bài viết, mỗi tấm ảnh của thầy trò gửi đến cho tôi là chứa đựng những kỷ niệm sâu sắc của mình đối với thầy với bạn, với trường. Nếu không khẩn trương thu thập lưu giữ và in ấn kịp thời thì theo thời gian sẽ biến thành cát bụi, do vậy nên dù có mất thời gian, công sứ, vất vả mà thành công, đó là một tập lưu giữ những tác phẩm của của thầy trò Trường Cấp 3 Quảng Trạch, những người sáng tác “nghiệp dư”, nhưng tập hợp lại, lại hiện lên hình ảnh mái trường thân yêu của chúng ta. Và nó sẽ tồn tại mãi với thời gian!”
Suy nghĩ như vậy có phải lãng mạn quá hay không mong các bạn đồng nghiệp và các anh chị thông cảm!

Thưa các thầy cô giáo, cán bộ , học sinh, tập tư liệu Văn học này, tác giả chủ yếu là những người sống trong cuộc, tôi và một số anh em chỉ làm nhiệm vụ thu thập lưu giữ, sắp xếp lại và in ấn thành tập, nếu có gì cần bổ sung xin mọi người đóng góp thêm.
Xin gửi đến các thầy cô giáo , cán bộ, học sinh đã từng công tác, học tập ở Trường PT Cấp 3 Quảng Trạch những năm  đầu thành lập và thời kỳ chống Mỹ lời chào chân i nhất, chúc mọi người mạnh khỏe – hạnh phúc – thành công.

Phạm Ngọc Căng


Bờ Hồ 5 giờ sáng

Nguyễn Quang Lập
Xưa mình ở Lò Sũ, rất gần Bờ Hồ, trừ khi mưa to gió lớn, mỗi buổi sáng đúng năm giờ lại chạy ba vòng quanh hồ.

 Đúng giờ ấy, những tên đạo chích, những ả ăn sương, những kẻ thất lỡ vận lặng lẽ rút khỏi những chiếc ghế đá, nhường chỗ cho khoảng một hai ngàn người vào mùa hạ, năm bảy trăm người vào mùa đông, tràn ra Bờ Hồ vươn vai hít thở, văn vẹo uốn éo, chạy nhảy đấm bóp… Bờ Hồ bừng thức,  sống động lạ thường.


Vòng quanh một ngàn bảy trăm mét Bờ Hồ có ba lớp. Ngoài cùng là lớp chạy, ở giữa là lớp đi, trong cùng là lớp thể dục, võ thuật, cầu lông và tán gẫu.

Lớp chạy chừng hai trăm người, bắt đầu bằng cụ già bảy nhăm tuổi, mặc bộ lụa trắng, thắt đai đỏ, vác đại đao gỗ dài hơn hai mét, vừa chạy vừa hô. Cụ chạy theo nhịp 2/4, dậm giật dậm giật, hô một hai một hai, mặt đằng đằng sát khí y như sắp xáp mặt quân thù.

Theo sau cụ và luôn vượt qua cụ có đủ mặt các tầng lớp xã hội từ tây đến ta. Một anh làm hậu đài sân khấu chèo, mắm môi mắm lợi chạy như đuổi lợn sổng chuồng. Một cô bán bún quần xoóc áo pull, đùi đỏ như đồng, ngực rung bần bật, vừa chạy vừa rắm kinh hồn. Đã thế còn  hất mặt lên trời hít hít thở thở.

Một nữ nhà thơ, trông chị chạy  tức tưởi như đang bị chồng đuổi đánh. Một anh đồ tể, ngã xe máy bị liệt một chân, kiên nhẫn kéo cái chân liệt quanh Bờ Hồ một vòng hết hai giờ không nghỉ.Một bác vẹo cột sống, chạy như lên đồng, vừa chạy vừa múa tay, nom hân hoan như vừa trúng số độc đắc.

Một anh hát rong, vẫn ngân nga ở ga Hàng Cỏ, sáng nào cũng chạy hai vòng, trước khi xỏ cái chân thật vào cái chân giả, cà nhắc cà nhắc đàn đàn hát hát những đồi hoa sim ôi những đồi hoa sim… chỉ độc mỗi bài hát ấy thôi thế mà cũng kiếm được bộn tiền.

Sau anh “ đời hát rong” là nghệ sĩ Tiến Đạt cắm cúi vừa chạy vừa  hớt hãi nhìn như đang chạy tìm trẻ lạc. Nhà báo Xuân Ba vừa chạy vừa đi, mồm miệng vẫn tích cực hít thở, mắt thì soi đùi không sót cô nào. Nhà thơ Trần Quang Đạo, chạy nửa vòng rồi quay trở lại, tính ăn gian cho đủ ba vòng.

Rồi Nhà văn Nguyễn Việt Hà, họa sĩ Lê Thiết Cương, tiến sĩ Trần Trọng Thưởng chạy vật vờ như đám mất sổ gạo, hễ thấy tốp chân dài nào chạy qua thì mắt sáng như sao, ba chân bốn cẳng đuổi theo vô cùng hoan hỉ.

Rồi các trưởng phó phòng, trưởng phó công ty, vụ trưởng thứ trưởng bộ trưởng…bụng eo cổ ngẳng, bụng béo cổ lùn đua nhau chạy như chạy giặc.

Rồi mấy bác Trung Quốc, mấy chú Hồng Kông, mấy em Việt kiều yêu nước xòe váy chạy trước gió trời, trông không chê vào đâu được.

Sau đó là tây tiếp thị, tây ba lô, tây "phi chính phủ”…, có cả cái anh “go go tôi đã về đây và ở lại đây cùng các bạn”, chạy phởn phơ trước cả ngàn cặp mắt thèm khát bốc cháy gái An Nam.

Đặc sắc nhất vẫn là một cụ già bảy hai tuổi, tóc trắng như cước,  nghe nói ở phố Hàng Dầu, lại nghe nói cụ vừa cưới một cô hai hai tuổi, sau khi cụ bà về trời vì tuổi cao sức yếu.

Cụ dậy từ bốn rưỡi sáng, cắm cổ chạy từ bảy đến chín vòng, tức khoảng 12 đến 14 km, một kỷ lục dân dưỡng sinh Bờ Hồ không ai vượt qua được. Đám văn bút lau nhau chạy theo cụ, nói cụ ơi cụ ơi bi giờ một đêm cụ làm mấy choác, cụ cười hà hà, nói  giờ già yếu rồi, chỉ làm tạm năm sáu choác rồi ngủ thôi.

Chưa thấy khi nào thấy vợ cụ chạy theo cụ, nhưng không một buổi sáng nào cụ không rủ được một cô cùng chạy. Lúc thấy cụ chạy với một bà nạ dòng mập ú, ngực rung chuyển rộn ràng như múa lân. Lúc thấy cụ chạy với một thanh nữ,  mông mây mẩy, má mòng mòng, môi mưng mưng, mắt mấp máy, vừa chạy vừa liếc xem còn có ai nhìn mình nữa không. Lúc thấy cụ chạy với một me đầm nặng chừng hơn tạ, cả khối thịt trắng phau cứ xoay qua xoay lại, bà cười toe toét, nói ánh lám ém mét quà( anh làm em mệt quá). …

Đến sáu giờ, trên một ngàn bảy trăm mét chu vi Bờ Hồ tràn ngập những người cao tuổi, chia thành bảy nhóm, trừ nhóm giáp ngã tư Đinh Tiên Hoàng- Hàng Khay toàn cụ bà, còn lại không có nhóm nào không có các cụ ông. Có ba nhóm rất được dân dưỡng sinh Bờ Hồ nể trọng, ấy là nhóm hô, nhóm họp và nhóm hát.

Nhóm hô ở Nam Bờ Hồ, bên phải nhà hàng Thủy Tọa, có khoảng một trăm cụ bà và dăm bảy cụ ông. Tất thảy các cụ ông đều đảm nhiệm một chức vụ nào đó. Một cụ ông đánh đàn organ, cụ không phải tập, sáng nào cũng chở đàn, loa, ác qui ra chờ sẵn từ rất sớm. Khi có lệnh tập thì cụ tay vung đầu rung mắt nhắm chơi đi chơi lại mỗi điệu anh Kim Đồng ơi anh Kim Đồng ơi…

Các cụ còn lại thay nhau hô khẩu lệnh, các cụ này cũng không phải tập nên hô rất hăng. Một cụ nhỏ thó, đứng chắp tay sau đít hô to đến nỗi đứng ở Bưu điện vẫn nghe tiếng cụ vang vang.

 Xem thì biêt tác phong của cụ là tác phong của ông cả đời mới được làm lãnh đạo, chỉ cái chức trưởng nhóm dưỡng sinh thôi mà vô cùng nghiêm trọng. Vừa hô cụ vừa lừ mắt quan sát, hễ thấy cụ bà nào nói chuyện là lập tức rút sổ ghi tên ngay tắp lự.

Nhưng cái sự hô khủng khiếp của cụ xem ra không được uy tín, tháng sau ( có lẽ đã họp hành chán chê, biểu quyết ê hề) thấy xuất hiện cụ khác thay thế, tiếng hô sấm rền nhói óc. Thế mà vẫn không ổn, bèn thay bằng cái catset 50w tiếng vang vang xói đến tận Hàng Vôi.

 Rồi cái catset ấy cũng không ổn, lập tức được thay một lúc hai cụ, một cụ hô khẩu lệnh, một cụ hô nhịp ầm vang hoành tráng, ở xa tưởng  tiếng thét Hội thề bên sông Như Nguyệt ngàn năm trước, đến gần chỉ thấy vài mươi cụ bà ốm nhom vừa tập vừa ngáp vừa nói chuyện.

Nhóm họp  phía góc đường Tràng Thi- Bà Triệu, nhóm này thay món dưỡng sinh liên tục. Lúc đầu múa kiếm, được vài hôm thấy cụ trưởng nhóm đứng trước micro nói rất ghê, sau đó thay bằng múa gậy, sau đó thay bằng Thái cực quyền, sau đó thay bằng tám bài thể dục bình dân, sau đó nửa múa kiếm nửa chạy, sau đó nửa múa gậy nửa thể dục bình dân…thay đổi tít mù rối như canh hẹ, y chang thời giá lương tiền thủa đất nước gieo neo.

 Nhưng căn bản nhóm này là họp, họp rất ghê, tất cả các cuộc họp đều hết sức nghiêm trọng và căng thẳng. Micro có chân, loa cỡ lớn, ngồi hàng một hàng hai thẳng băng và họp. Tập nửa giờ thì họp một tiếng, có khi họp đến mặt trời đứng bóng vẫn chưa xong. Thất kinh.

Nhóm hát ở sát ngay Tháp Bút. Nhóm này rất hay, chỉ chừng mươi lăm cụ thôi, tập cũng hăng hát cũng khỏe. Cứ xong buổi tập, mặc ai đi Đông về Tây, nhóm này tập trung lại hát cái đã.

Một cụ mắm môi mắm lợi  bắt nhịp, tập từng câu một rất kiên trì, toàn những bài ca ngợi non sông gấm vóc do các cụ sáng tác. Lại còn đọc thơ nữa, đọc ở đài phường chưa đã nư, phải ra đây đọc mới đã. Cụ nào cũng làm thơ, thơ vần vè, thơ thất vận đủ hết, các cụ đọc say sưa, bài nào cũng được xuýt xoa khen sâu sắc.

Có cụ thơ có bốn câu, kể xuất xứ bài thơ hết bốn chục câu, dừng lại giữa chừng giải thích từ nọ từ kia câu nọ câu kia hết hơn trăm câu nữa. Hôm sau vẫn đọc đúng bài đó, lại kể xuất xứ bài thơ hết bốn chục câu, dừng lại giữa chừng giải thích từ nọ từ kia câu nọ câu kia hết hơn trăm câu nữa… thế mà không thấy ai chán.

Ai thế nào mặc lòng, các cụ cụ nhóm này vẫn sáng sáng ra đây, tập hợp nhau lại, bá vai hót cổ đu đu đưa đưa, hát và đọc thơ ca ngợi non sông gấm vóc. Hay, he he.

Bao quanh Bờ Hồ là hệ thống dịch vụ. Dịch vụ điểm tâm chuyên trị đậu hũ, sữa đậu nành, chủ yếu phục vụ các cụ ông mở hầu bao đãi xả láng các cụ bà. Dịch vụ cân sức khỏe, bà béo thì nhẹ đi, ông gầy thì nặng lên, cân Tàu biến hóa khôn lường. Dịch vụ nhiếp ảnh, phục vụ tận tâm các đôi nam nữ ở quê ra. Dịch vụ vệ sinh giá bao cấp một nghìn đồng một suất, bất kể anh có khai gian đi nặng ra đi nhẹ.

Bây giờ đang mùa lạnh, mình vừa đi qua đó thấy quân số dưỡng sinh giảm đi quá nửa, tuy vẫn không hết rộn ràng.  Các thanh nữ quần xooc đùi trần không ai xuất hiện. Các nhóm cụ già cũng giải tán dần đi. Nhóm họp giải tán đầu tiên, sau đó là nhóm hô, cuối cùng là nhóm hát.

Cụ già bảy hai tuổi, tóc trắng như cước, vẫn còn trên đường chạy nhưng vì không còn cô nào nên trông cụ thất thểu lờ vờ như ông thất trận.

Riêng đám chạy mưu danh mưu sĩ mưu sinh vẫn bền bỉ với Bờ Hồ. Bà hàng bún ông hát rong thằng lưu manh đứa ăn cắp, rồi trưởng phòng phó phòng trưởng phó công ty vụ trưởng thứ trưởng bộ trưởng, rồi nhà văn nhà báo nhà giáo nhà lang băm, rồi nghệ sĩ nhân dân nghệ sĩ ưu tú nghệ sĩ ba que… vẫn bám  đuổi nhau đèn cù rật rật chạy mãi không thôi

Thứ Hai, 7 tháng 10, 2013

Đôi lời với bác Quý Doãn

Nguyễn Quang Lập
Những người dân làng An Xá đang khóc thương cụ Võ
Sáng nay vừa mở mắt đã thấy lời bác Quý Doãn trên VTC News ( tại đây): “Đừng nghĩ cho làng xóm bởi bác là mênh mông vũ trụ rồi, là người của nhân loại rồi. Bất cứ vùng đất nào đều là quê hương. Cần chọn vùng đất nào để người dân đi qua đều ghé thăm được.”....“Bác về Quảng Bình là quý rồi. Bất cứ vùng đất nào ở Quảng Bình đều là quê hương, đừng phân biệt huyện này huyện khác. Vì sao ở chỗ này mà không là chỗ kia…”

Thật bất ngờ và thật buồn là bác Quý Doãn cũng nghĩ vậy.

Thưa bác Doãn, vẫn biết cụ Võ là " là mênh mông vũ trụ rồi, là người của nhân loại rồi ", vẫn biết " vùng đất nào ở Quảng Bình đều là quê hương" nhưng một khi đã đưa cụ về quê hương thì phải đưa cụ về đúng nơi cụ đã sinh ra, nơi ông bà tổ tiên, bà con cô bác của cụ đã và đang sinh sống. Đó mới đích thị là quê hương. Việt Nam là quê hương, Quảng Bình là quê hương nhưng quê hương đích thị của cụ Võ nơi chôn rau cắt rốn của cụ, ấy là làng An Xá xã Lộc Thủy huyện Lệ Thủy. Mỗi khi cụ Võ về quê không phải cụ về đến chân Đèo Ngang, tới Vũng Chùa rồi quay lui mà cụ phải về tận làng An Xá, ấy mới gọi là về quê. Đứa con nít cũng biết rõ điều đó.

Nghe bác Quý Doãn nói:"Cần chọn vùng đất nào để người dân đi qua đều ghé thăm được"  lại càng ngạc nhiên hơn.

Tui không tin bác Quý Doãn lại nghĩ về Vũng Chùa - Quảng Đông lại thuận tiện hơn về  An Xá- Lộc Thủy, nghe bác nói chợt cười phì, đúng là ông quan chính trị, quen mồm nói lấy được.

Không biết bác Quý Doãn đã đến Vũng Chùa chưa. Đó là vùng đất cằn, không dân. Đảo Yến không dân, Móng Rồng không dân. Tui không biết còn ai có gan đem cha mình ra an táng vùng đất đá lạnh lẽo hoang sơ đó nữa hay không? Thật đáng sợ. ( Hỏi nhỏ bác Quý Doãn: nếu cha bác là"là mênh mông vũ trụ rồi, là người của nhân loại rồi" thì bác có cam tâm an táng cha bác nơi hoang sơ lạnh lẽo đó hay không?) Sẽ có người bảo đã có cách làm cho Vũng Chùa đông vui như đô hội. Dạ dạ em biết rồi, khoảng vài chục nghìn tỉ sẽ đô hội ngay, cơ hội cho bao nhiêu kẻ trúng thầu, sướng chưa!

 Bác Quý Doãn biết tui là dân Quảng Trạch. Xét về riêng tư tui rất mừng nếu cụ Võ an nghỉ ở quê tui. Chỉ mất nửa giờ ô tô là tui có thể đến thắp hương cho cụ rồi, mặc kệ họ hàng nhà cụ Võ, những người dân chỉ kiếm được một ngày hơn chục nghìn, ở cách xa bảy chục cây số, muốn thắp hương cho cụ phải bỏ ra cả ngày trời cả đi lẫn về. Đó là không kể nếu an táng ở đảo Yến thì bà con phải đi đò ra thắp hương nếu không muốn đi theo tour du lịch của ông con nhà cụ Võ. Chắc bác biết quá rõ điều đó.

Tất nhiên ý nguyện của cụ Võ và gia đình cụ là trước tiên và trên hết, dân chúng phải hết sức tôn trọng. Nhưng như bác nói cụ Võ "là mênh mông vũ trụ rồi, là người của nhân loại rồi " thì nguyện vọng ấy cũng phải thể theo nguyện vọng của dân. Cụ Võ suốt đời vì dân, làm gì cũng nghĩ vì dân, há lẽ khi đã quyết về quê an nghỉ cụ lại quyết an nghỉ ở Vũng Chùa, rồi bảo đâu cũng là quê hương, thôi thì tao nằm đây cũng được?

Thực lòng tui không tin an táng ở Vũng Chùa- Quảng Đông- Quảng Trạch là ý chỉ của cụ Võ. Người già thường vẫn hay nghĩ về nguồn cội, cớ gì cụ Võ đã quyết về an nghỉ ở quê lại chọn nơi an nghỉ cách ngõ nhà mình gần bảy chục cây số, bất chấp nguyện vọng của bà con cô bác, hò hàng nội ngoại  của cụ và hàng vạn dân Lộc Thủy- Lê Thủy quê hương của cụ?

Có thể khi về thăm khu du lịch sinh thái của ông con trai, thấy phong cảnh sơn thủy hữu tình, sướng lên cụ nói khi tao chết đưa tao về đây nghe. Đó chỉ là câu nói vui, quyết không phải là ý chỉ. Cũng như khi cụ về làng Đường Lâm, đứng trước mộ Ngô Quyền cụ cũng đã nói ý nguyện của cụ muốn được an táng nơi đây, cạnh lăng Ngô Quyền thì chẳng ai coi đó là nguyện vọng thật, đấy chỉ là sự bộc bạch tình yêu lòng kính trọng của cụ đối với tiền nhân mà thôi.

 Vinh vào những lời nói của cụ Võ để làm theo ý thích của mình quả thật đáng trách, còn như bịa ra nguyện vọng của cụ Võ để trục lợi thì thật vô đạo và bất hiếu, có phải không thưa bác?

Chiều qua đọc báo Tuổi trẻ ( tại đây) thấy thông báo chọn nơi an táng cụ Võ là Vũng Chùa- Quảng Đông- Quảng trạch, có câu:"Đây cũng là địa điểm lúc còn sống Đại tướng đã đồng ý với gia đình để Đại tướng yên nghỉ vĩnh hằng" tui đã ngửa mặt cười to ba tiếng.  Sáng nay đọc VTC News thấy bác nói:"Bất cứ vùng đất nào đều là quê hương " lại ngửa mặt khóc to ba tiếng rồi vội vàng thưa với bác đôi dòng. Có gì không phải bác bỏ quá cho.


Chủ Nhật, 6 tháng 10, 2013

Cầu đã bắc qua sông

Nguyễn Quang Lập
Tôi nhớ năm 1969, Bế Kiến Quốc có bài thơ Những dòng sông rất hay, hơn bốn chục năm rồi tôi vẫn nhớ: “Sinh ra ở đâu mà ai cũng anh hùng/ tất cả trả lời sinh bên một dòng sông/…Chẳng phải rộng xa một tầm cò vỗ cánh/Cũng xinh xinh vài sải chèo quẫy mạnh/Quê hương Việt Nam mườn mượt những cánh đồng/ Mỗi con người gắn bó một dòng sông”.


Tôi cũng vậy, cũng sinh ra bên một dòng sông, dòng sông “rộng xa một tầm cò vẫy cánh”, ấy là sông Gianh.


 Từ thủa bé thơ cho đến lúc khôn lớn, không chiều nào tôi không đến với sông Gianh. Còn bé thì bơi lội, ngụp lặn thi nhau bắt cua cá. Lớn lên một chút tôi thường đứng trên bờ đê Thị trấn quê tôi nhìn sang bờ bên kia, cố tìm xem đâu là nhà của Lưu Trọng Lư, đâu là nhà của Nguyễn Hàm Ninh, cả nhà bác Đồng Sĩ Nguyên nữa, ông là niềm tự hào của dân quê tôi, tôi cũng cố tìm xem ngôi nhà tuổi thơ của bác ấy ở đâu.

 Đến tuổi trưởng thành, khoác vai người yêu đi dọc bờ sông trong những đêm trăng sáng, vừa đi vừa hát những bài hát của Nguyên Nhung, của Trịnh Công Sơn… tôi còn biết bên kia sông, cạnh nhà chị tôi sơ tán ỏ xã Quảng Hoà là nhà của Nguyên Nhung, làng Hoà Ninh là quê mẹ của Trịnh Công Sơn. Trước đó nhà bà ở làng Vụng Nổ, giữa trảng cát phía sau thị trấn Ba Đồn, rồi cả nhà chạy giặc lên làng Hoà Ninh, cuối cùng mới vô Huế. Thế là Trịnh Công Sơn có hai dòng sông quê cùng có tên là Linh Giang. Dòng Linh Giang quê nội là sông Hương và dòng Linh Giang quê ngoại là sông Gianh. Ấy là tôi nghe ba tôi kể vậy chứ thực hư thế nào tôi không biết. Nhưng tôi tin. Bởi vì tôi nghe trong những ca khúc của anh vừa có chút gì ngọt đắng, hờn tủi của sông Hương; vừa có chút gì thoáng đãng, dữ dội của sông Gianh.

  Ba tôi nói xưa kia sông Gianh được gọi là Đại Linh Giang. Theo Đào Duy Anh, cái tên này có từ thế kỉ 3, thời Tây Tấn bên Tàu, cách đây chừng 1.700 năm. Sau này dân gọi tắt là Linh Giang trùng tên với Linh Giang ở Huế, sông Hương ngày nay, là vì vậy. Đấy là những gì kí ức bé thơ của tôi về dòng sông, cho đến quá nửa đời người kí ức ấy không hề phai nhạt, càng ngày càng thẫm đẫm trong tôi. Nhưng ấn tượng nhất có lẽ là những cây cầu bắc qua sông, tuồng như chúng nằm ngoài những giấc mơ đẹp nhất của tôi. Từ thủa bé thơ cho đến tuổi về già, chưa khi nào tôi dám nghĩ sẽ có một ngày cầu được bắc qua Sông Gianh. 

Từ bao đời nay người sông Gianh chỉ khát một cây cầu, khát khao cháy bỏng nhưng ít ai dám mơ tới. Sông Gianh sâu và rộng, mùa nước lũ vô cùng dữ dằn, làm sao có thể mơ đến một cây cầu? 1700 năm nay, kể từ khi người sông Gianh có mặt, qua sông vẫn chỉ những con đò, đến mùa nước lũ thì những con đò cũng vắng. Ngay bến phà Gianh nối đường Quốc lộ 1, những con phà cũng phải cắm sào neo bến không dám qua. Xe và người nối dài hàng cây số hai bờ sông chờ nước rặc luôn xảy ra ngày này qua ngày khác, năm này sang năm khác, đời này sang đời khác. Rất nhiều  khi tôi đã đến bên này sông, chỉ cần 10 phút xe hơi là về quê mà phải ăn chực nằm chờ trắng ngày thâu đêm.

 Đôi khi tôi ngồi buồn thiu bên trên bờ đê nhìn dòng sông cuồn cuộn chảy, nghĩ bụng dòng sông như tính khí người sông Gianh, khi hiền như đất khi giận dữ như nước lũ; nghĩ bụng có lẽ hơn trăm năm ( 1627-1775) chúa Trịnh không thu phục được chúa Nguyễn cũng vì sông  Gianh rộng quá, sâu quá, dữ dội quá chăng; nghĩ bụng không biết bằng cách nào Quang Trung đưa được đàn voi trận qua sông  kịp ra thành Thăng Long đại phá quân Thanh năm Kỉ Dậu (1779). Tất cả đều có thể, nhưng chiếc cầu bắc qua sông thì không thể, không chỉ có tôi nghĩ thế, mấy vạn dân hai bờ sông  có lẽ cũng nghĩ như tôi.

Chẳng ngờ một ngày đẹp trời cuối thế kỉ 20, cầu đã bắc qua sông, chấm dứt cơn khát 1700 năm của những người dân quê tôi, quả thực còn hơn một giấc mơ. Bây giờ không chỉ một cây cầu mà có đến 8 cây cầu, ngoài cầu chính nốí đường quốc lộ 1, gọi là cầu Gianh, còn có bảy cây cầu nữa, đó là cầu Đá Nện, cầu Cà Tang, cầu Chợ Gát, cầu Yên Tố, cầu Sảo Phong, cầu Châu Hoá và cầu Quảng Hải rải dọc dòng sông*. Những chiếc cầu đã chấm dứt những chuyến đò ngang bấp bênh, hiểm nghèo. Vụ đắm đò Quảng Hải 43 người chết tết năm kia có lẽ là kỉ niệm buồn đau cuối cùng của dòng sông quê tôi vì thiếu những cây cầu.

Tết năm ngoái tôi về quê, khi đến cầu Gianh tôi đã xuống xe đi bộ qua cầu. Tôi biết cây cầu dài 764,4 m nhưng tôi thích bước và đếm, như ngày xưa Nguyễn Tuân đã từng bước và đếm khi qua cầu  Hiền Lương. Tôi kéo rê những bước chân già nua ốm yếu của mình bước và đếm, loạng choạng và nghiêng ngả bước và đếm, xiêu vẹo và đau nhói bước và đếm… cả thảy 1711 bước!

Bước cuối cùng tôi ôm lấy cây cột đầu cầu thở dốc, rưng rưng trong niềm hân hoan khôn tả: 1700 bước! 1700 năm qua người sông Gianh dù đã trải biết bao khổ đau và cay cực thì giờ đây đã có những cây cầu. Nghĩ thế mà khóc. Mấy đứa trẻ tròn xoe nhìn tôi, chúng không hiểu vì sao tôi khóc. Làm sao chúng hiểu được, bởi vì khi đó tôi đang gọi thầm ba mạ tôi nơi chín suối, nói ba ơi mạ ơi, cầu đã bắc qua sông!

Hà Nội, một ngày cuối đông 2010
………………..
*Khi bài này vừa post lên được một tiếng thì tui nhận được tin nhắn của Mục Đồng: ” Bọ ơi! QB vừa mới khởi công xây cầu Văn Hoá trên Sông Gianh ”. Rứa là có cả thảy 9 cây câu bắc qua Sông Gianh.

Thứ Bảy, 5 tháng 10, 2013

Nhậu nhẹt ba miền

Nguyễn Quang Lập
Dân viết lách thường hay tụ bạ nhậu nhẹt, phần vì ham vui, rời khỏi bàn làm việc, sau khi một mình chống chọi với “ pháp trường trắng”, đa phần đều muốn tìm kiếm bạn bè giải stress; phần vì nhu cầu tìm kiếm thông tin, nhặt nhạnh tư liệu sống quanh bàn nhậu. Đôi khi nghe lỏm được nhiều ý tưởng cực hay, nhiều đề tài hấp dẫn bạn bè buột miệng nói ra.


            Bây giờ nhậu nhẹt ba miền na ná nhau, ngày xưa khác nhau lắm. Sài Gòn sôi động, đời sống chảy xiết, dân nhậu  Sài Gòn, là nói cánh viết lách, sáng dậy sớm hẹn nhau đi ăn sáng uống cà phê nói chuyện công việc, rồi cắm cổ làm việc cho đến chiều tối xong việc mới nhậu nhẹt tới số, có khi kéo dài tới khuya.


 Nhậu nhẹt ra nhậu nhẹt, mọi người quẳng hết việc hát hò chọc quê chơi vui, đúng là dân nhậu chuyên nghiệp. Anh nào gọi đi nhậu anh đó trả tiền, luật bất thanh văn từ xưa đến nay. Không như dân Bắc cứ gọi nhau đi,  nhậu xong ai có tiền thì trả, thành thử đến giờ thanh toán cứ nhìn nhau nói cười nhàn nhạt, nhiều anh cứ đúng giờ đó thì nhìn đồng hồ đứng dậy, nói mình có việc phải về sớm, bí quá thì nhảy đại nhảy vào toilet, hi hi.

 Sài Gòn mỗi trận nhậu thường chia thành ba hiệp, hiệp một bia hơi, uống mồi chừng dăm bảy vại là kéo nhau đi Karaoke, hội hát bằng mồm hội hát bằng tay. Cuối cùng thì nháy nhau đi massage, kẻ massage sấp người massage ngửa. Sau đó thì biệt tăm, có khi nửa năm chẳng gặp nhau.

 Sài Gòn lắm việc, bạn bè từ xa đến, sơ thì mời nhau cà phê ăn sáng, thân thì nhậu một trận tơi bời rồi lặn mất tiêu, ít ai mời bạn về nhà. Nhiều người mới vào vào Sài Gòn hay bị sốc. Đã quen thói ở miền Trung miền Bắc, hễ có bạn tới là đánh đu với bạn suốt ngày, nay thấy bạn lặn mất tiêu suốt kì mình ở chơi, đến ngày về gọi điện chào cũng chỉ nói đi mạnh giỏi nghen, chẳng thấy tiễn tiếc gì thì ngạc nhiên lắm, đôi khi tủi thân, bực mình nữa.

Ngược lại dân Sài Gòn lần đầu ra Bắc cũng hay bị sốc. Sáng mấy anh quen gọi đi nhậu, chiều cũng mấy anh đó đón đi, ngay mai ngày kia vẫn mấy anh đó, đến ngày ra đi cũng mấy anh đó. Nhiều người cứ băn khoăn không hiểu sao người ta mất quá nhiều thời giờ vì mình, đâu biết thời đó cánh viết lách xứ Bắc chỉ có một món tiêu xài thoải mái, đó là thời gian.

Dân Hà Nội cà phê không ham, công việc cũng chẳng nhiều, ngủ  dậy muộn, ăn sáng xong làm mấy chén chè chén mới túc tắc đến công sở. Vật vờ vào ra cho đến trưa, giờ cơm trưa cũng là giờ đàn đúm, đến chiều tối lo về với vợ. Phàm đã chui vào chuồng lập tức nội bất xuất ngoại bất nhập, cố gắng làm anh chồng ngoan cho đến sáng hôm sau. Nhậu nhẹt nhiều khi như họp, bàn đủ chuyện trên trời dưới đất, cãi nhau ỏm tỏi.

Thi thoảng mới có cuộc nhậu chia làm ba hiệp, hiệp một nhậu say chí tử, hiệp hai mới kéo nhau đi hát hay massage. Nhưng  quân số hiệp hai thường mất đi một nửa, đủ thứ lý do để bỏ cuộc, người sợ vợ, kẻ sợ quan trên nhìn xuống người ta trông vào.

Dân nhậu Hà Nội quan tâm đến cái view, thoáng đãng yên tĩnh càng tốt vì họ cần nói chuyện, cuộc nhậu nào cũng có người nêu vấn đề mọi người góp bàn hoặc tranh cãi, gọi là nhậu vấn đề. Cánh viết lách Hà Nội ngồi với nhau mỗi ông là một ông trời con, không việc gì không phán được, ông nào ông nấy phát ngôn tầm cỡ uỷ viên trung ương, rất ghê. Hết nhậu về công sở lại bóp miệng vật vờ vào ra vô cùng khiêm tốn, hi hi.

        Dân viết lách miền Trung thường nhậu nhẹt bất tử, bất kể giờ nào miễn có tiền. Việc vàn chẳng có bao lăm, thời gian không thành vấn đề, chỉ cần cái cớ là kéo nhau vào quán. Bạn bè ở Nam ra, ở Bắc vào là cái cớ tuyệt vời để khai báo với vợ, có thể đi thâu đêm suốt sáng.

            Miền Trung vẫn giữ được thói quê, bạn bè từ xa đến không thể không mời về nhà, làm mâm cơm đãi bạn, nhậu nhẹt ở nhà chán chê rồi mới đi ra quán. Khách khứa nhiều người chạy sô ăn cơm nhà bạn cũng đủ chết xác nhưng không thể từ chối, bữa cơm nhà như là chứng chỉ của tình thân sự quí trọng, thiếu nó lắm người rất áy náy.

            Không có khách khứa thì tụ bạ quán cà phê  ngồi chán thế nào cũng có người kéo đi quán, nhậu hết cuộc này sang cuộc khác, tối vừa về nhà có người gọi lại vọt,  các bà vợ chỉ nguýt lườm ít ai dám nói. Ngày nào cũng nhậu, ít ai có khả năng bao sân, thành ra có kiểu nhậu nối dài. Anh đến sau bảo kể từ đây là phần của tôi nhé, một anh khác đến lại bảo kể từ đây là phần của tôi nhé, mỗi anh chịu thanh toán một khúc, cứ thế nối dài ra mãi.

Về sau cánh nhà báo có kiểu nhậu bắt Fulro, gọi người ra trả tiền hộ. Nhậu giữa chừng thì gọi ai đó, thường là các ông chủ doanh nghiệp, các quan chức trong tỉnh mời họ ra nhậu chơi. Mấy ông này lập tức hiểu ý, vọt ra làm đôi ba chén, góp vui đôi ba câu rồi giành lấy  bill thanh toán cái rẹt. Không phải ai cũng thích kiểu nhậu bắt Fulro, vì nó luỵ đến đạo đức nghề nghiệp, nhưng tỉnh nào cũng có một anh bắt Fulrro cực tài, rất đáng sợ.

Ngày nay văn hoá nhậu ba miền đã có nhiều điểm tương đồng. Dân nhậu Bắc, Trung đã chuyên nghiệp tựa dân nhậu Nam. Cánh viết lách Hà Nội không chỉ nhậu vấn đề, nhậu đờn ca cũng rất phê. Cánh viết lách Sài Gòn không chỉ nhậu đàn ca mà nhậu vấn đề cũng rất nổ. Cánh viết lách miền Trung đã có nhiều việc làm hơn, anh nào cũng cộng tác với vài ba tờ báo ở Hà Nội, Sài Gòn, nhậu nhẹt đã có giờ, không còn triền miên như ngày xưa nữa. Cả ba miền bây giờ chỉ nhậu hết hiệp một là về, ít ai sa đà sang hiệp hai hiệp ba tốn tiền mất thời giờ phí sức.

Phục vụ nhà hàng ba miền cũng có nhiều đổi khác. Miền Bắc, miền Trung học miền Nam đã thực bụng coi khách hàng là thượng đế. Nhân viên nhà hàng Hà Nội biết mềm mỏng lịch lãm nhiệt tình, đã mất đi khá nhiều các bộ mặt lạnh lùng khinh khỉnh, di chứng thời bao cấp. Nhân viên nhà hàng miền Trung cũng tiến bộ rất nhanh, không còn nhiều nhà hàng cho nhân viên ra tranh giành nhau chặn bắt khách hàng, bắt được rồi gọi gì cũng dạ, dạ riết mà chẳng thấy đưa món ra. Hỏi vì sao chưa đưa món ra, lại dạ. Nói tôi hỏi vì sao chưa đưa  món ra dạ dạ cái gì, vẫn cúi đầu lễ phép dạ dạ, tức phát điên. Việc ấy bây giờ tuồng như đã chấm dứt. Có lẽ văn hoá dịch vụ thời bao cấp sắp chết thật rồi chăng?
Mừng.

Người lính già

Võ Trung Hiếu 
 ... kính tặng hương hồn Võ đại tướng

Hôm qua có người lính già qua đời
Bỏ lại sau lưng một trận đánh lẫy lừng
Những cuộc chiến tranh
Và buồn vui những ý nguyện chưa thành


Những hàng cây cúi mình ủ rũ
Những người lính thấy lòng mình chông chênh
Những khẩu súng gục đầu chĩa báng lên trời
Có điều gì còn buồn và lớn lao hơn tiếc nuối

Ngoài kia rừng gào, biển gọi
Đất thao thức nỗi lo những ngày binh đao
Những vị tướng thời bình chưa đánh trận nào
Liệu có gieo nên vần " Thắng " ?

Vang bóng một thời
Người lính già giản dị và anh dũng
Đoàn quân của ông đi
Với ý chí bay ra từ nòng súng

Những bông hoa trong vườn rơi rụng
Đất lại giang tay chào đón người về


5.10.2013

VTH

Tác giả gửi Quê Choa

Nỗi băn khoăn của Đại tướng Giáp

Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh trả lời BBC
Đại tướng Võ Nguyên Giáp, cựu Tổng tư lệnh tối cao của Quân đội Nhân dân Việt Nam đã qua đời tại Hà Nội chiều ngày 4/10, thọ 102 tuổi.

Trong buổi phỏng vấn ngày 5/10, Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh kể về những điều mà ông và Đại tướng Võ Nguyễn Giáp trao đổi trong những lần gặp gỡ hiếm hoi.


BBC: Ông có thể chia sẻ cảm nhận khi nghe tin Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ trần?

Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh: Đối với tôi, Đại tướng Võ Nguyên Giáp ra đi là một tổn thất lớn cho nhân dân nước tôi. Tôi vô cùng xúc động và bàng hoàng khi nghe tin đại tướng qua đời.

BBC: Điều gì làm cho ông nhớ nhất về Tướng Giáp?

Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh: Nhiều điều lắm, nói không xuể. Trước kia tôi cũng là quân nhân, nhưng từ năm 1960 thì tôi được điều ra khỏi quân đội để đi làm việc khác nên tôi cũng ít có dịp gần với đại tướng.

Chỉ khi đại tướng và tôi đã nghỉ hưu thì tôi có đến thăm đại tướng mấy lần. Đó là những lần hiếm hoi mà tôi và đại tướng gặp nhau, và chúng tôi nói chuyện với nhau rất thân tình.

Khi biết tôi sắp đến, lần nào ông cũng mặc quân phục chỉnh tề rồi mới xuống phòng khách tiếp tôi. Sau này tôi có đến thăm đại tướng mấy lần nữa, nhưng phong thái của đại tướng vẫn như thế.

Một đồng chí cấp trên tiếng tăm như thế mà tiếp một người bình thường như tôi, lúc bấy giờ đã nghỉ hưu và cấp bậc chỉ ngang với một thứ trưởng, như thế, thì đó là một phong thái khiến tôi cảm kích.

Điều băn khoăn nhất

BBC: Trong những lần gặp hiếm hoi đó, hai người thường trao đổi về những vấn đề gì ạ?

Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh: Trao đổi về tình hình đất nước. Về những vấn đề mà chúng tôi cùng quan tâm và có lẽ cũng hợp ý với nhau, như vấn đề không nên phá hội trường Ba Đình, không nên khai thác bauxite Tây Nguyên, hay việc sát nhập cả tỉnh Hà Đông vào Hà Nội để mở rộng. Đó là những điều ̣Đại tướng không đồng ý.

BBC: Điều gì về tình hình đất nước khiến ông Giáp băn khoăn nhất, thưa ông?

Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh: Đại tướng băn khoăn về tình hình đất nước sao mà chậm phát triển đến thế. Đáng lẽ ra sau khi chiến thắng rồi, phải phát triển mạnh hơn chứ?

Các nước cùng trình độ, người ta tiến rất xa rồi mà đất nước ta lại tụt hậu. Đó là những điều đại tướng băn khoăn nhất.

BBC: Khi những kiến nghị của Tướng Giáp lên chính phủ không được tiếp nhận thì ông đón nhận điều này như thế nào?
Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh: Đại tướng tỏ thái độ bình tĩnh như xưa nay thế thôi.

Ngay cả khi người ta đưa đại tướng phụ trách về sinh đẻ có kế hoạch thì đại tướng vẫn làm công việc với tinh thần trách nhiệm cao, với thái độ rất bình tĩnh, không hề tỏ ra bất mãn.

BBC:Tướng Giáp từng có một câu nói rất nổi tiếng rằng "từ 'lo sợ' không có trong tư duy quân sự của chúng tôi, bởi vì với chúng tôi, không có gì quý hơn độc lập tự do". Việt Nam đã có được độc lập, tự do trọn vẹn mà ông Giáp hằng mong chưa, theo ông?

Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh: Tôi nói vắn tắt thế này: Bây giờ kinh tế thì sa sút lắm rồi. Hiện thời thì bị Bắc Kinh khống chế, phần nào lệ thuộc vào người láng giềng phương Bắc. Đây là điều làm tôi rất bất bình.

BBC:Những ngày qua báo chí nước ngoài đã viết rất nhiều về Tướng Giáp. Có ý kiến nói ông là một nhà quân sự tài ba, nhưng cũng có ý kiến nói ông thành công vì chấp nhận tổn thất quá lớn, điều mà đối thủ của ông không chấp nhận được. Ông nghĩ sao về hai luồng ý kiến này?

Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh: Rõ ràng là người ta đem chiến tranh đến cho đất nước chúng tôi chứ không phải ông Giáp gây chiến tranh. Pháp đến muốn đô hộ chúng tôi thì phải đánh, mà họ có lực lượng quân sự rất to lớn, Mỹ cũng thế thôi.

Một nước còn kém về các phương tiện vũ khí thì tự nhiên phải có tổn thất thôi. Chiến tranh tất nhiên phải có tổn thất, phía nào có vũ khí phương tiện tốt hơn thì có thể sát thương đối phương tốt hơn.

Nhưng không vì thế mà chúng tôi bỏ đi độc lập tự do. Không phải do chúng tôi gây ra chiến tranh mà do người ta mang chiến tranh đến cho chúng tôi, buộc chúng tôi phải chống lại.