Thứ Sáu, 4 tháng 10, 2013

Chuyện một người say

Nguyễn Quang Lập
Mình gọi điện hỏi thằng Vinh (Nguyễn Quang Vinh), nói anh cu Cá còn ở Ba Đồn không? Nó nói chết rồi. Trời đất, thế mà định bụng hè này về gặp anh cái.

Anh cu Cá cao tuổi hơn mình nhiều, bình thường phải gọi bằng chú, bác nhưng  bà con, chi trên chi dưới chi đó, anh em trong nhà đều gọi anh cu C á cả, mình cũng gọi anh cu Cá. Mình ít khi gặp anh, nếu gặp cũng thấy anh trong tình trạng say, anh nát rượu sớm, 4 chục tuổi đã nát rồi.
Những năm gần đây khi nào cũng thấy anh vặt vẹo, đi đứng loạng quạng, run rẩy, cứ được chục bước lại ôm  cây đứng thở. Vậy mà vẫn cứ say, say ngả say nghiêng. Lần nào gặp, anh cũng nói mới về hả mi? Mình dạ rồi đi, anh kéo tay lại, nói cho anh năm nghìn. Buổi sáng gặp xong, chiều gặp lại anh lại nói mới về hả mi, cho anh năm nghìn.

Ai biết ngày xưa, thời chiến tranh, dân thị trấn coi anh như anh hùng.

Ngày đầu tiên máy bay Mỹ bắn phá, 5/8/1964, dân thị trấn sợ xanh mặt. Mạ mình với chị Viên ngồi trong hầm tay vái miêng rên lạy trời lạy phật! Có lẽ khi đó cả Thị Trấn chỉ có anh cu Cá là gan nhất. Anh 17, 18 tuổi chi đó, vác khẩu súng trường K44 chạy đuổi theo máy bay vừa bắn vừa chửi. Anh chửi đ. mạ đế quốc Mỹ rồi bắn phát, lại chửi đ, mạ đế quốc Mỹ lại bắn một phát.

Sau thấy đuổi theo máy bay không ăn thua, anh trèo lên nốc nhà cho gần máy bay, cũng vừa bắn vừa chửi. Bắn hết đạn thì tụt quần vỗ háng hét vang lên, nói vơ Đế quốc Mỹ  nời…cu tau đây nì ! Mình mới 8 tuổi, chưa thấy sợ, chỉ thích nhào ra khỏi hầm xem máy bay, mạ mình vừa hét vừa đánh cho nát đít. Mình nhìn ra cưả hầm thấy anh cu Cá leo lên chạc ba cây xoan đầu hồi nhà mình bắn máy bay, vừa bắn vừa chửi. Mạ mình kêu to, nói đi chỗ khác chửi em ơi, không đế quốc Mỹ nó tưởng mự chửi nó thì chết thôi.

Sau này mọi ngườì đều hiểu máy bay không phải như ô tô, nó bay cao  đến đâu, tốc độ siêu âm là như thế nào, nhưng hồi đầu đúng là ấu trĩ như thế.

Cứ sau một đợt máy bay oanh tạc, thế nào anh cu Cá cũng được Thị đội tuyên dương. Anh cu Cá cho mình một mớ ca- tút để chơi, sướng rêm. Một hôm mình đi học về, chị Nghĩa nói anh cu Cá bắt đựơc phi công, mình vứt xắc chạy đến nhà anh liền. Anh đang ăn khoai, mình hỏi phi công mô rồi, anh nói nộp huyện đội rồi. Mình tiếc ngơ ngẩn, hỏi phi công ra răng, anh nói to cao chơ răng. Mình mếu máo, nói răng anh không giữ lại cho tui coi với. Anh đưa mình củ khoai, nói được rồi lần sau  bắt được tau cho coi.

 Những chuyện anh đi báo cáo thành tích mình không biết, chỉ nghe kể lại. Người ta viết sẵn cho anh một bản báo cáo dài tám trang, đại khái gia đình chịu nhiều đau khổ, quê hương lầm than, tội ác trời không dung đất không tha, lòng căm thù chất cao, rực lửa căm thù… vân vân. Anh đánh vần mãi chưa được nửa trang, vứt tờ giấy vung tay hô đá đảo Đế quốc Mỹ, rồi nói báo cáo hội nghị cho em nghỉ. Những lần sau hễ thấy ai gọi anh đi báo cáo là anh trốn. Có hôm chạy sang nhà mình, trốn trong hầm. Mạ mình nói thằng ni dại, được thành tích lại không đi báo cáo, anh nói ẻ vô mự, cực lắm.

Hai năm sau có luật ai bắt được phi công Mỹ huyện sẽ thưởng một con bò. Anh chạy lên huỷện đòi thưởng bò, huyện không cho, nói chỉ giải quyết từ nay về sau, trước đó không tính. Anh không thắc mắc gì, nhưng hễ uống rượu say lại chạy lên uỷ ban huyện hét ầm lên: Vơ ủy ban… bò tui mô! Lúc đầu còn hét, sau vừa hét vừa chửi đ. mạ uỷ ban… bò tau mô!

Người ta gọi vào giải thích, hỏi hiểu chưa, anh nói hiểu rồi, hỏi thắc mắc chi không, anh nói không, hỏi đã vui vẻ chưa, anh nói vui vẻ rồi. Nhưng hễ uống rượu say anh lại mò lên uỷ ban hét, nói vơ uỷ ban nời, bò tau mô!

Chiến tranh qua lâu rồi, chẳng ai nhớ đến anh nữa, chừng bốn, năm chục tuổi, anh bắt đầu nát rượu.Anh chẳng làm gì ngoài việc đi liệm xác. Trong vùng, hễ có ai chết là gọi anh cu Cá, chưa khi nào anh từ chối, kể cả lúc nửa đêm, phải đi xa năm mười cây số anh cũng không từ.

Người chết có đủ loại, người khoẻ mạnh, sạch sẽ không nói làm gì; người bẩn thỉu, bệnh tật, lại bệnh truyền nhiễm mà chết thì đến ruột cật cũng chẳng ai dám mó tay vào. Anh Cá ok hết. Anh ngậm rượu phun toẹt cái nói một câu, lại ngậm rượu phun toẹt cái nói một câu. Cứ như anh đang nói với người sống chứ không phải người chết.

Hôm chị Qui mình chết anh cũng tới liệm. Khi đó anh Huy đang làm cầu Thăng Long, không về kịp. Mình con trai ngồi ngoài, không cho vào nhưng nghe anh nói đủ cả. Anh nói con ni mặt đen nhưng người ngợm trắng gớm hè, rồi phun rượu cái toẹt. Anh nói mới 28 tuổi chết tội hè, không biết thằng Huy làm được chi không  mà chết tội hè .Mạ mình khóc hét lên mi nói cái chi rứa Cá ơi là Cá. Anh phun rượu cái toẹt nói mự hay, tui nói thiệt đó, mấy con bụ to hay chết non, tội lắm. 

Vào lúc tang tóc anh lại nói bậy bạ nhiều ngươì tức lắm, có người còn dọa đánh, nhưng đụng sự không thể không mời anh.Anh làm cẩn thận, sạch sẽ, tiền công chẳng đáng bao nhiêu.Thực ra ngậm rượu phun vậy, đến khi xong việc đã say nhừ, ai nhét vào túi anh bao nhiêu anh cũng chẳng thèm để ý.Anh chân nam đá chân chiêu vừa đi vừa hát, vấp ngã đâu là nằm đó ngủ cho tới sáng, nhiều khi con cái đi tìm toát mồ hôi.

 Một điều lạ, khắp thị trấn anh không sợ ai, chỉ sợ con. Vợ anh chết sớm, anh sống với ba cô con gái và thằng Minh, con trai cả. Con gái anh không sợ, anh chỉ sợ mỗi thằng Minh. 

 Anh đi suốt ngày, chiều tối mới ngật ngưỡng về nhà, lật cái nắp soong cơm lên, nếu không có thằng Minh, bất kể cơm còn ít hay nhiều, anh đều dập mạnh cái nắp, trợn mắt hét đ. mạ, bay để cơm cho bọ bay ri đa! Anh vừa ăn vừa chửi, nói công tao giáo dưỡng sinh thành mà đến đọi cơm tụi bay còn tiếc. Tao chết coi thử tụi bay có bốc cứt mà ăn không. Nhưng khi thằng Minh bước vào, nghiêm giọng hỏi chi rứa bọ, lập tức ông im ngay, cười cái xoẹt nói có chi mô con. Rồi ông ngước mặt nhìn mấy cô con gái ngọt ngào răng tụi bây phần cho bọ nhiều ri, đứa mô ngoan hái cho bọ trái ớt.

Đám tang mẹ Tiểu Hoa, nghệ sĩ kịch đoàn kịch Bình Trị Thiên, ở sát nhà ông. Liệm xong ông còn ở lại, lăng xăng làm cái này làm cái nọ suốt đêm. Tiểu Hoa thì ngồi khóc vùi, chẳng biết ông làm gì, sáng mai chỉ gửi ông tiền công liệm. Ông trợn mắt hỏi mi trả tau từng ni tiền a. Vừa dứt lời thì thằng Minh vào hỏi chi rứa bọ. Ông cười cái xoẹt đưa tiền cho Tiểu Hoa, nói Hoa ơi, dượng nói rứa chớ dượng không lấy mô con. Bất kì ai đụng sự là ông chửi, khoa chân múa tay giống anh hùng hảo hán, nhưng hễ gặp thằng Minh là ông nhũn như con chi chi, khi say mềm y chang thằng con nít ba bốn tuổi.

Ba ngày mở cửa mả chị Qui, mạ mình đưa gói xôi thịt cho mình nói đưa sang cho anh cu Cá. Bà còn dặn thêm nhớ đưa tận tay anh, không anh đến nhà chửi cha mình đó. Mình sang, không có anh, ngồi đợi. Thằng Minh ngồi tiếp mình một lát thì anh về, chân nam đá chân chiêu. Thằng Minh trừng mắt, nói bọ uống mô về say rồi. Ông dựa vách  len lén nhìn thằng Minh, len lén đi vào, lập cập nói không không… bọ mới uống có.. hai chén thôi con. Thằng Minh rút cái roi mây chỉ mặt ông, nói vô phản nằm xuống!

Mình ngạc nhiên quá trời.

Anh len lén leo lên phản nằm sấp, cái mông chổng cao, sợ hãi nói bọ mới uống có hai chén thôi con. Thằng Minh quất cái roi cực mạnh xuống phản, nói bọ hứa tui răng. Anh giật mình đánh thót, nói bọ mới uống hai chén thôi mà, tha cho bọ đi con. Thằng Minh dứ dứ cái roi, nói bọ nợ mấy roi rồi. Ông nói 14 roi con, thằng Minh hét răng lại 14, ông lập cập nói ngay 20, 20…, thằng Minh hét tui không đùa với bọ mô nghe. Ông mếu máo nói ba chục roi rồi, nhưng bữa ni cho bọ nợ con ơi. Thằng Minh nói rứa là cả thảy 33 roi nghe chưa. Anh nói ừ, 33 roi…, bọ nhớ rồi con. Thằng Minh quát vô ăn cơm, ông len lén đi vào bếp. 

Thằng Minh dắt cái roi lên vách nháy mắt với mình cười, nói doạ cho ông sợ chứ ông hư lắm. Hôm anh Cá tới thăm ba mình ốm, ba mình nói nghe thằng Lập nói mày bị thằng Minh doạ đánh à? Anh nói mô có cậu, tại con dạy nó lâu ngày quên, chừ nó dạy lại cho nhớ thôi, có chi. Chuyện này mình kể cả trăm lần, ai cũng cười nhưng chẳng có ai tin, hi hi

Vừng ơi mở cửa ra!

Minh Diện
Thế là lại qua một kỳ thi tốt nghiêp phổ thông trung học. Lần này cả nước có 946.000 thì sinh, trong đó 854.000 thí sinh là học sinh trung học, 91.000 thí sinh là học sinh các trường giáo dục thường xuyên. Ngành giáo dục đã  thành lập 2.296 hội đồng thi, huy động 142.000 cán bộ coi thi và 23. 000 cán bộ chấm thi.  Số cán bộ chiến sỹ  công an làm nhiệm vụ an ninh và  bảo vệ các phòng thi lên tới hàng chục ngàn và cán bộ các cơ quan ban ngành đoàn thể cũng xem xem cỡ đó.Đâu chỉ  học sinh đi thi  mà cả phụ huynh đi thi, vậy là hàng triệu người trong cả nước bị cuốn vào  hai cuộc thi liền kề nhau cùng tiền bạc và bao nhiêu  thắt thỏm lo toan.Sức người đã vậy còn sức của ? Theo phó giáo sư, tiến sỹ Trần Xuân Nhĩ, nguyên Thứ trưởng Bộ giáo dục-Đào tạo,  số tiền nhà nước phải bỏ ra là gần 1.000 tỷ đồng.  Nếu tính trung bình mỗi phụ huynh phải bỏ ra 1.000.000 đồng  chi phí các khoản cho con em mình đi thi, thì cũng ném vào đó khoảng 1.000  tỷ nữa. Số tiền đó gấp 6 lần tổng thu ngân sách năm 2012 của tỉnh Yên Bái.

               Kết quả kỳ thi tốt nghiệp phổ thông trung học năm nay, nơi thấp nhất đạt 94%, nơi  cao nhất 100%,  bình quân cả nước đạt 98%. Có người vui mừng vì thành tích ấy,  nhưng không ít người băn khoăn  tự hỏi, huy   động ngần sức người, sức của chỉ để loại ra 2% thí sinh thôi sao?  Vậy thì công nhận quách 100 % tốt nghiệp cho rồi , còn bày vẽ thi cử làm gì cho tốn công tốn của?  Điều làm mọi người băn khoăn đặt  câu hỏi ấy chính là cái tỷ lệ đỗ tốt nghiệp cao ngất ngểu,  mập mở hư ảo cứ lặp đi lặp lại nhiều lần.
 
             Nhớ lại ngày ông Nguyễn Thiện Nhân mới nhậm chức Bộ trưởng giáo dục,  và tuyên bố “nói không với bệnh thành tích”, ra tay kiểm soát chặt chẽ kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông.  Năm  đó tỷ lệ  đỗ  chỉ đạt hơn  20%, thậm chí có lớp  0%.  Nhưng, rồi cùng với việc  nhà  giáo Đỗ Việt Khoa xông xáo  chống tiêu cực thi cử, như nhân vật Đôn Kihôtê  của Cevantes đánh nhau với cối xay gió , bị đánh tơi tả, thì  như có phép thần thông, tỷ lệ đỗ tốt nghiệp  nhảy vọt lên 99 %, và  cứ như thế   liên tục đến ngày nay. 
 
             Người ta cho mang điện thoại di động vào phòng thi, phao thi phập phồng ngoài cửa sổ, cổng trường, giám thị ngang nhiên gà bài cho thí sinh ... phòng thi như cái chợ trời mua bán điểm ! Căn bệnh thành tích của thầy giáo, cô giáo, cùa trường và địa phương, cộng với thói háo danh háo thắng bon chen của phụ huynh học sinh đẻ ra bao nhiêu chuyện nhố nhăng phi đạo đức.
 
 Tôi được biết hầu hết các nước trên thế giới  bỏ thi tốt nghiệp trung học phổ thông  lâu rồi.  Ở Đức học sinh được hướng nghiệp từ tiểu học, lên trung học cơ sở học theo năng khiếu.  Chương trình giáo dục bắt buộc  9 năm, học xong  là chuyển sang học nghề.  Không phải ai cũng lên trung học phổ thông rồi vào cao đẳng, đại học. Học lên cỡ đó phải có ý tưởng rất nghiêm túc.  Những học sinh  trung học phổ thông  không chỉ được bồi dưỡng kiến thức mà còn coi trọng phát triển nhân cách, tư duy độc lập. Người ta cấp bằng tốt nghiệp cho học sinh  căn cứ vào kết quả học tập ba năm học , rất minh bạch công khai.
 
                Pháp là nước vẫn tổ chức thi tốt nghiệp trung học phổ thông , nhưng  làm  rất gọn nhẹ thiết thực , không ầm ào khoa trương  lãng phí sức người sức của như ở ta.   Có lẽ ít người để ý, là tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông ở Pháp chỉ  đạt  từ 70-75 %, kém ta 23 đến 28 %.  Nhưng đó là kết quả đích thực, không ai nghi ngờ giá trị của cái bằng tốt nghiệp  được trao cho người thi đỗ.
 
               Còn ở Việt Nam, như Phó giáo sư Trần Xuân Nhĩ   thừa nhận : “ Cái tỷ lệ tốt nghiệp phổ thông trung học cao ngất ngưởng  ấy chỉ là kết quả  ảo, chất lượng không thực!”   Xin nói thêm, nói  trắng ra,  là kết quả đó mang nội hàm của học vẹt, học gạo và sự  thông đồng gian  lận.  Chính vì vậy mà Bộ giáo dục đào tạo đã  phải đề ra quy định khống chế trần tốt nghiệp.  Đó là một biện pháp chống tiêu cực. Nhưng cái sáng kiến lấy thành tích chống lại bệnh thành tích ấy không có tác dụng, ngược lại như  tưới xăng chữa lửa, bệnh thành tích càng  trầm trọng thêm.
 
              Thật đáng buồn cho những tấm  bằng tốt nghiệp phổ thông trung học được cấp từ những cuộc thi ít chất lượng nhiều bê bối ấy.  Nó chỉ  là cái giấy thông hành cho  học  sinh thi  vào các trường  cao đảng , đại học. Sau cuộc thi ấy, những em  đỗ coi cái bằng ấy là đồ bỏ,  phần lớn không đỗ  chỉ còn là một vật kỷ niêm buồn thời cắp sách đến trường.  Cô giáo Nguyễn Thị Loan tâm sự trên một trang Web : “ Tôi không biết học sinh của mình làm gì với tấm bằng tốt nghiệp trung học phổ thông?” 
 
              Đúng vậy , chẳng cơ quan nào nhận một người nửa thầy nửa thợ vào làm việc . Ba năm học chay  mớ kiến thức dàn trải, có học sinh chưa viết thành thạo một tờ đơn xin việc, chưa biết xử lý một cái bóng đèn hư con chuột, phỏng  tấm bằng tốt nghiệp đó giá trị gì?
 
             Vậy mà mỗi năm  đã  bỏ ra hàng  ngàn tỷ đồng  tổ chức cuộc thi vô bổ ấy. Số tiền đó có thể  xây dựng được hàng chục ngôi trường khang trang cho con em chúng ta khỏi phải học trong những căn  nhà tranh vách đất.
 
              Ngày 31-7-2013, Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan đã đề nghị Bộ giáo dục nghiên cứu bỏ kỳ thi tốt nghiệp trung học phồ thông. Theo bà  tỷ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp trên toàn quốc năm nào cũng 95-96 % . Chỉ duy nhất một năm khi thực hiện cuộc vận động hai không, thắt chặt thi cử, thì  có trường chỉ đỗ tốt nghiệp 10-20% , thậm chí có lớp không có học sinh nào đỗ.  Liệu có thắt chặt mãi được không?  Nếu thắt thì phải thắt khâu quản lý, thắt quá trình dạy và học để bỏ kỳ thi này!” 
 
                   Có thể nói, kỳ thi tốt nghiệp phổ thông trung học là tấm gương phản chiếu toàn bộ nền giáo dục đào tạo của Việt Nam hiện nay. Một nền giáo dục mà ông Bộ trưởng Phạm Vũ Luận đã phải thừa nhận trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội ngày 15-8-2013 vừa qua  : “Chất lượng giáo dục phổ thông chưa đảm bảo mức tối thiểu!”  Phó giáo sư tiến sỹ Trần Xuân Nhĩ cho rằng đó là một hành động dũng cảm của Bộ trưởng bộ giáo dục đào tạo.
 
                  Tháng 4 -2010,  Phạm Vũ Luận được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng giao  quyền Bộ trưởng bộ giáo dục đào tạo,  thay  Nguyễn Thiện Nhân , hai tháng sau, ngày 18-6, ông được Quốc hội thông qua Nghị quyết bổ nhiệm chức Bộ trưởng với số phiếu tín nhiệm rất cao 83,98%.  Lúc đó , dù là  người “ không thích tạo dấu ấn cá nhân” nhưng chắc  ông  không thể ngờ rằng, ba năm sau , ngày 11-6-2013, mình  lại là một trong ba quan chức  có số phiếu tín nhiệm thấp nhất (Tín nhiệm cao 86,tín nhiệm  229, tín nhiệm thấp 177). Giờ giải lao phiên họp ấy , nghe nói Phạm Vũ Luận  đã  lảng tránh trả lởi nhà báo, bằng lời nói đúng với tâm trạng cùa mình: “ Xin lỗi nhé, tôi đang rất buồn!”
 
 Buồn là phải!  Bởi từ khi ông ngồi trên chiếc ghế  ấy, ngành giáo dục nhiều tai tiếng quá. Thi cử gian lận nổi cộm vụ Đồi Ngô (Bắc Giang) nhà giáo mất phẩm chất nổi cộm vụ Sầm Đức Xương (Bắc Cạn) sách giáo khoa in cờ Trung Quốc,  không in quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, sinh viên ra trường thất nghiệp hàng loạt,  thạc sỹ đi bán trà đá, cử nhân đi phụ hồ, nạn dạy thêm tràn lan , bạo lực học đường như cơm bữa...  Nhà  giáo là người lái đò qua sông,  truyền đạo làm người cho các thế hệ sau, mà để xảy như thế , thì  như  Chu Văn An đã nói : “ Không xứng làm thầy!” 
 
                   Giáo  dục Việt Nam đã lụi lại quá xa so với thế giới. Ở trong nước cũng lạc hậu với sự phát triển kinh tế xã hội. 
 
                    Đề án đổi mới giáo dục lần này là quyết tâm của toàn ngành giáo dục, đối với Phạm Vũ Luận còn là  sự đặt cược toàn bộ sinh mạng chính trị  của mình vào  nửa  nhiệm kỳ  Bộ trưởng còn lại.   Ông Phạm Vũ Luận   khẳng định rằng  lần này không phải là cải cách giáo dục mà là một cuộc “Đổi mới toàn diện và căn bản”,  làm thay đổi quan điểm tư duy và triết lý giáo dục,  không đào tạo con người thụ động mà đào tạo con người có tinh thần độc lập , có đầu óc phê phán, trung thực , con người luôn luôn cởi mở với cái mới, con người giàu tính sáng tạo .  Phạm Vũ Luận  gọi đây là “trận đánh lớn”  và tỏ ra rất quyết liệt để giành chiến thắng. Ông  đã nói với phóng viên báo VnExpress : “Bước vào trận đánh , từ tường đến lĩnh đến binh lính phải quyết tâm , tin vào chiến thắng, sẵn sàng trả giá. Tôi coi thực hiện  “Đề án đổi mới giáo dục” lần này là một trận đánh lớn!” 
 
                  Giáo sư Hoàng Tụy nhận xét : “Theo tôi, đây là lần đầu tiên chúng ta có một Đề án nghiêm chình nhất về đổi mới giáo dục!” Còn Phó giáo sư tiến sỹ Trần Xuân Nhĩ thì đánh giá : “ Đây là đề án đổi mới nhất của Bộ giáo dục từ trước đến nay, nhưng đáng tiếc là vẫn còn những điềm chung chung”
 
                 Theo phó giáo sư tiến sỹ Trần Xuân Nhĩ, đề án đã vạch ra những yếu kém của ngành giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học, cao đẳng, dạy nghề. Đó là một hệ thống giáo dục cứng nhắc, thiếu liên thông giữa các trình độ đào tạo, phương thức giáo dục  sách vở,  giáo điều, nặng lý thuyết, nhẹ thực hành, chưa gắn kết đào tạo với nghiên cứu khoa học, sản xuất kinh doanh  và nhu cầu sử dụng cùa thị trường lao động, đội ngũ lãnh đạo và nhà giáo chất lượng chưa cao. Mặt hạn chế của Đề án đổi mới giáo dục là chưa vạch rõ phương hướng khác phục mà vẫn là những biên pháp chung chung. Ví dụ như bảo đảm sự công bằng giữa trường công lập và trường dân lập thế nào? Xóa bỏ những đặc quyền đặc lợi ra sao?  Đề án nhắc tới phương thức thi và công nhận tốt nghiệp phổ thông trung học sẽ được đổi mới theo hướng kiểm tra năng lực học sinh, thiết thực, hiệu quả tin cậy, sử dũng được công nhận tốt nghiệp phổ thông trung học làm căn cứ cho tuyển sinh dạy nghề và cao đẳng  đại học,  tiến tới giáo dục bắt buộc 9 năm  ở bậc phổ thông nhưng chưa dứt khoát được là sẽ làm thế nào?
 
               Đề án rất hay và rất nhiều ý kiến đóng góp rất tâm huyết.
 
                Nhưng một nhà giáo rất có uy tín lại nói với tôi: “Với chính sách như hiện nay mà giáo dục Việt Nam chỉ tụt hậu như vậy thì đã lả kỳ tích”. Ông tỏ ra hoài nghi vì: “Từ Nghị quyết Trung ương 2 khóa 8, đảng đã nêu “Giáo dục và khoa học là quốc sách hàng đầu” nhưng có chuyển biến đâu.
 
              Hội nghị Trung ương 8 lần này lại tập trung bàn về Đổi mới toàn diện giáo dục. Tôi đã  từng  hy vọng và thất vọng, giờ lại khấn: “Vàng ơi mở cửa ra!”
   M D
 
Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả

Chuyện bắt phi công

Nguyễn Quang Lập
Hồi chiến tranh dân Quảng Bình mê nhất hai thứ, một là đi kiếm dù, hai là bắt phi công. Dù có hai loại, dù pháo sáng là dù trắng và dù phi công là dù đỏ. Dù pháo sáng là chủ yếu, không đêm nào máy bay Mỹ không thả pháo sáng, vì thế không đêm nào dân Quảng Bình không nhặt được dù. Thỉnh thoảng vẫn nhặt được dù phi công, dù này quí hiếm vô cùng, ai nhặt được dù này còn mừng hơn bắt được vàng. Thật là như thế, một chỉ vàng hồi này chỉ 80 đồng, trong khi một cái dù đỏ phi công có thể bán 300 đồng, có khi lên tới 500 đồng.


            Dù là thứ vải rất bền và đắc dụng, làm vỏ chăn cũng tốt, may áo quần cũng hay, đặc biệt làm rèm che, làm  phông màn thì quá đẹp. Đám cưới nào có ba bốn cái dù vừa làm mái che rạp vừa làm phông màn gọi là đám cưới sang. Thà rằng cắt tóc đi tu/ cưới xin không có tấm dù ra chi. Những chiếc dù trọn vẹn rất hiếm, thường khi có một chiếc dù rơi xuống thì cả mấy trăm người tay dao tay câu liêm nhào tới xâu xé, may lắm mới kiếm được một rẻo. Có khi chẳng kiếm được rẻo nào, còn đánh nhau sứt đầu mẻ trán. Những chiếc dù trọn vẹn thường nhặt nơi rừng rú xa xôi, hoặc vận đỏ rơi trúng đầu, nửa đêm khuya khoắt thiên hạ ngủ cả, chiếc dù rơi trúng nhà mình.

            Bắt phi công không được dân chúng hồ hởi phấn khởi như đi kiếm dù nhưng cũng rất hấp dẫn. Ai bắt được phi công sẽ được huyện đội thưởng một con bò, lại được giấy khen bằng khen, được đi báo cáo thành tích, được báo tỉnh chụp ảnh đưa tin rất oách. Mình nhớ anh cu Cá ở Ba Đồn ở quê mình là người dân đầu tiên của tỉnh Quảng Bình bắt được phi công. Thường khi máy bay cháy, phi công Mỹ nhảy dù thì dân quân, bộ đội đã bố trí sẵn để chụp cổ chúng rồi, dân khó lòng “ tranh phần” với dân quân, bộ đội.

 Nhưng thỉnh thoảng phi công nhảy dù trong đêm không ai nhìn thấy, hoặc gió thổi dù bay lạc hướng phán đoán của dân quân, bộ đội thì khi đó dân mới bắt được. Anh cu Cá do đoán được hướng dù rơi mà bắt được phi công. Chuyện anh cu Cá bắt phi công mình đã kể rồi, không kể nữa.
 Mình nhớ năm 1967, ở làng Thuận Bài có một anh chuyên nghề mò cua bắt cá ở Sông Gianh, tên gì không nhớ nữa. Nhà anh nghèo, vì nghèo quá mà không sao cưới được vợ. Yêu nhau ba bốn năm rồi nhưng hễ đặt vấn đề cưới xin là tắc tị. Đừng nói mổ heo mổ bò, chỉ cần sắm cái giường cưới  cho tử tế nhà anh cũng không có khả năng. Anh chầu chực bắt phi công để kiếm một con bò cưới vợ nhưng hai ba năm trời không cách sao bắt được.

 Một hôm bộ đội pháo cao xạ bảo vệ cảng Gianh bắn cháy một chiếc F4H, thằng phi công nhảy dù rơi tõm xuống giữa sông Gianh. Một cuộc tranh giành phi công giữa bộ đội, dân quân với máy bay Mỹ xảy ra rất ác liệt suốt cả buổi chiều. Máy bay Mỹ mười mấy chiếc thi nhau quần nát một vùng rộng lớn bốn xung quanh sông Gianh, rồi đem máy bay trực thăng từ Hạm đội 7 bay vào nhằm trục vớt thằng phi công. Trực thăng bay thấp thế nhưng không ai làm gì được vì quanh nó có cả đàn phản lực vừa bắn rốc két vừa thả bom bảo vệ.

             Không phải một chiếc trực thăng mà ba chiếc, một chiếc trục vớt phi công, hai chiếc bay kèm hai bên, hễ thấy  ai đưa thuyền hay bơi ra sông là chúng bắn như như vãi đạn. Mọi người tính bó tay, để mặc cho thằng phi công được cứu thoát. Khi đó anh ở trong làng Thuận  Bài vừa bò vừa chạy ra, nhảy xuống sông, lặn chừng ba hơi thì đến giữa dòng. Khi  chiếc trực thăng thả thang dây xuống, thằng phi công vừa túm lấy thì anh này cũng vừa nhô lên, túm lưng quần thằng phi công kéo xuống.

 Anh vừa bơi vừa kéo thằng phi công vào bờ. Mấy chiếc trực thăng đều thấy cả nhưng không dám bắn, bắn thì chết luôn thằng phi công. Anh bắt thằng phi công giải đi, còn tụt quần vỗ đít chĩa về phía mấy chiếc trực thăng, nói vơ Đế quốc Mỹ…khu ( đít) tau đây nời.  Nghe nói huyện đội xét anh này  có công lớn, thưởng  cho anh hai con bò với ba trăm đồng, chẳng những đủ tiền cưới vợ mà còn làm được mái nhà tranh. Nhà báo tìm đến hỏi anh, nói vì sao đồng chí vượt qua lửa đạn để bắt phi công Mỹ. Anh nói bá cáo vì tui cần tiền cưới vợ. Nhà báo “ mớm cung”, nói khi đó lòng căm của đồng chí rực cháy phải không. Anh nhăn răng cười, nói bá cáo tui quen biết chi hắn mà căm thù.

 Hồi sơ tán ở làng Đông, nhà mình ở đầu làng, từ đấy cứ đi ngược lên phía Tây Bắc, băng qua rặng trâm bầu là gặp một cái bàu sen cực rộng, rộng đến nỗi đứng bên này bờ cứ tưởng mặt trời chui lên từ bờ bên kia. Bên kia bàu là một xóm nhỏ, có mấy túp lều tranh cất tạm, núp dưới rặng trâm bầu, xưa gọi là Xóm Bàu, bây giờ ai cũng gọi là Xóm gái hoang.  Ba người đàn bà ở đấy không phải gái chửa hoang, họ là những người đàn bà ế chồng. Một chị tên là Đóc Xấu, cao quá không ai lấy. Một chị tên Mai bị thương ở cổ, tụt lưỡi không nói được, nói gì cũng dá da da… dá da da, thành thử đàn ông ai cũng chê. Một chị tên Cà bị tây hiếp, chán đời không thèm lấy ai nữa, chị là người lớn tuổi nhất, năm 1968 đã hơn bốn mươi tuổi, vẫn gọi là Mụ Cà. Cả ba kéo nhau ra đây dựng nhà lập trại ăn ở với nhau như chị em, vô cùng thân thiết.

Một đêm, bộ đội dưới cảng Gianh bắn trúng máy bay, chiếc F105 cháy rùng rùng, đâm đầu xuống chân núi sau làng Trung Thuần, dân các làng sung sướng reo vang. Ba chị cùng nhảy cà tẩng, lấy soong nồi gõ ầm ĩ. Chợt nghe cái bụp phía bàu sen, ngó ra thì thấy một cái dù đỏ xoè rộng trên bàu. Ba chị sướng rêm, lội ra ngay. May tối hôm đó hình như mọi người mải xem máy bay cháy, không để ý, chẳng thấy có ai chạy ra, ba chị lần đầu được một cái dù trọn vẹn, lại dù đỏ, sướng ngây ngất. Cuốn xong dù thì thấy một cái đầu nhô lên, ba chị rú lên chực bỏ chạy. Cái đầu nói rốp rít xốp xít, ba chị nhìn lại, hoá ra là thằng phi công Mỹ, họ cứ đứng trơ nhìn  nhau.

 Mụ Cà sực tỉnh chĩa dao vào thằng Mỹ, nói dơ tay lên. Thằng Mỹ nói rốp rít xốp xít. Mụ Cà dơ dao đe, nói cha tổ mi, tau nói mi dơ tay lên. Thằng Mỹ cứ đứng trơ, nói rốp rít xốp xít. Chị Đóc Xấu nói bộ đội dặn khi mô bắt phi công Mỹ phải nói bút dò nó mới dơ tay lên. Thực ra bộ đội dặn phải nói put your hands up nhưng chị Đóc Xấu quên, hi hi. Mụ Cà nói mi nói đi, chị Đóc Xấu hô to bút dò bút dò! Mặt thằng Mỹ đực như ngỗng ỉa. Chị Mai thấy thế liền vung hai tay lên, nói dá da da… dá da da! Thằng Mỹ dơ hai tay lên liền. Mụ Cà, chị Đóc Xấu trố mắt ngạc nhiên, nói con Mai nói chi mình  cũng không hiểu mà thằng Mỹ hiểu liền. Mụ Cà chỉ tay vào xóm, trợn mắt với thằng Mỹ, quát dá da da … dá da da! Thằng Mỹ vội vàng đi vào xóm liền. Mụ Cà cười he he he, nói tưởng răng, tiếng Mỹ dễ òm!

Ba chị được huyện đội thưởng một con bò, họ dắt về làng mổ bò khao cả làng. Làng xóm xúm lại khen ngợi, nói giỏi hè giỏi hè. Mụ Cà vênh mặt lên, nói phải biết tiếng Mỹ mới bắt được phi công, nỏ phải chuyện chơi. Làng xóm xúm lại hỏi, nói tiếng Mỹ ra răng nói nghe coi. Mụ Cà nói è he dễ òm, dá da da… dá da da. He he.

Vĩnh biệt đại tướng Võ Nguyên Giáp!

Nguyễn Quang Lập
Cụ Võ và cụ Hồ tại Sở chỉ huy Chiến dịch Biên giới (1950).
Mình được bạn bè và người nhà cụ Võ báo tin: cụ đã về trời lúc 18h9 phút ngày 04/10/2013, hưởng thọ 103 tuổi, cái tuổi xưa nay hiếm. Tiếc thương cụ vô hạn, mình không biết làm gì hơn, xin đăng lại bài viết của mình năm cụ tròn 100 tuổi, tưởng là cụ đi lúc đó, cầu cho cụ được bình an nơi cõi Phật.

 Kỉ niệm nhỏ về Võ Đại tướng

Dân Quảng Bình ở Hà Nội hầu hết đã gặp cụ Võ, dân làm báo viết văn Quảng Bình hầu hết đã đến nhà cụ chơi, thế mà mình thì không.

 Bữa trước ngồi nhậu với Trần Quang Đạo, Bảo Ninh, Nguyễn Hữu Quí, chúng nó hẹn đến chơi nhà cụ, mình không đi.

 Anh Mĩ rất gần gũi cụ, xưa đã từng theo cụ cả năm trời vào cái thời lấy Tây Nguyên làm thủ đô kinh tế, với cô Hà lại là chỗ thân thiết, anh bảo mình đến chơi mấy lần, nhưng mình ngại, không đến.

Chẳng phải vì sợ mang tiếng thấy người sang bắt quàng làm họ, chỉ vì mình ngưỡng mộ từ lâu rồi, ngưỡng mộ thấm tận xương tủy, bây giờ gặp chẳng may vì lí do gì đó làm mình thất vọng thì chán lắm.

Đã có đôi ba người ở xa thì yêu quí kính trọng vô cùng, khi gặp cái là chán ngoét, đôi khi vì chuyện đó mà buồn cả tháng. Thành ra mình quyết định ở xa ngưỡng mộ cụ thôi.

Dân Quảng Bình, là nói dân sở tại, ai cũng có thể chê bai, kể cả bố mẹ, nhưng cụ Võ thì không, tuyệt nhiên không. Thế gian có ba người dân Quảng Bình thờ phụng đó là Chúa, Phật và cụ Võ.

Họp hội đồng hương năm nào cụ cũng đến, hễ cụ đến trễ tí là lại xôn xao, thì thào không biết có chuyện chi mà giờ này cụ chưa đến. Cụ nói nhỏ, người nghe thì đông, hầu hết chẳng nghe gì nhưng hễ cụ nói xong ai nấy đều hân hoan như vừa nghe xong thánh chỉ.

Chẳng phải thời cụ làm quan cụ lo lót được cho dân Quảng Bình. Mình hỏi nhiều ông quan to Quảng Bình, nói cụ Giáp có bố trí được ghế này ghế nọ không,?  Ai cũng thở hắt ra, nói è he.. có mô. Hễ có việc gì của tỉnh người ta chạy đến chỗ nọ chỗ kia chứ chẳng bao giờ chạy đến cụ.

Thì Phật, Chúa tóm lại có lo được cho dân chút gì đâu nhưng có đánh chết dân vẫn không thôi thờ phụng. Cụ Võ cũng thế thôi.

 Quý Doãn nói cụ đánh hai đế quốc to đã trợt mặt rồi, mình còn đòi hỏi cụ cái chi nữa.

Thời xưa các ông bộ chính trị đều có ảnh phóng to, lồng khung treo tường cả. Mình còn bé chẳng biết ông nào ra ông nào, chỉ duy nhất cụ là mình biết, bởi vì cụ là Đại tướng. Con nít thì Đại tướng là nhất, còn mấy cái chức khác thì mặc kệ, chẳng quan tâm.

Sáu, bảy tuổi ngồi há mồm nghe anh Chanh, anh Út kể chuyện cụ, sướng rêm người.

Anh Chanh kể tướng Đờ Cát gọi điện cho Cụ Hồ xin tha. Cụ Hồ hỏi Đại tướng ý kiến chú ra răng? Đại tướng nói thưa Bác thằng mô tha thì tha chứ Đờ Cát thì dứt khoát không tha. Tụi mình vỗ tay rào rào, nói đúng đúng không tha! Không tha!

Anh Út kể đội bóng đá nước mình đá với đội Trung Quốc, bị sút quả 11m, nếu bắt thì thủ môn sẽ vỡ ngực chết, không bắt thì thua. Trưởng đoàn gọi điện cho cụ Hồ hỏi thưa Bác có bắt không, cụ Hồ thương thủ môn chết tội, định nói thôi không bắt. Đại tướng ưỡn ngực rập chân, nói thưa Bác... dù chết Tổ quốc mình cũng không thể thua. Cả lũ nhảy lên reo hò, nói đúng đúng! Dù chết cũng không thua!

Rồi xúm lại hỏi anh Út cuối cùng mình có thắng không. Anh Út vênh mặt lên, nói thắng chơ răng. Sướng muốn ngất luôn.

Đại khái cái gì Cụ Hồ cũng hỏi Đại tướng, cái gì Đại tướng cũng quyết định ngon lành, toàn trúng không thôi. Tâm hồn bé thơ của mình đầy ắp những chuyện như thế.

Mấy chục năm sau, hình như năm 1980, đang ăn cơm bỗng nghe tin cụ đựơc phân làm trưởng ban Sinh đẻ có kế hoạch, bỏ cơm nằm khóc rưng rức suốt cả buổi chiều. Tâm hồn bị tổn thương trầm trọng giống như thấy người ta đang làm nhục bố mình.

Năm sau, kỉ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ, đài ngâm bài thơ Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, mình ngồi phục xem người ta có ngâm câu Hoan hô Đại tướng Võ Nguyên Giáp/ Sét đánh ngày đêm xuống đầu giặc Pháp hay không. Hoá ra không.

Điên tiết mình đập tan cái đài của anh Đuya, sau phải vay tiền gần chết mua cái đài mới đền anh.

Năm 1984, đoàn kịch Quân đội dựng vở Bài ca Điện Biên, hình như kịch bản của Sĩ Hanh, Doãn Hoàng Giang đạo diễn. Nghĩ bụng chắc người ta chẳng mời cụ đến dự đâu. Hóa ra cụ đến. Bụng phục thầm quân đội quá xá, chỉ có quân đội gan mới to thế chứ chẳng ai dám đâu.

Mình đứng cuối hội trường hồi hộp chờ xem cái đoạn kết. Đoạn kết có chi tiết chính uỷ mặt trận báo cáo chiến dịch thắng lợi, chỉ mỗi câu báo cáo Đại tướng hay báo cáo Đại tướng Võ Nguyên Giáp mà cãi nhau ỏm tỏi.

Anh Giang thì cứ tủm tỉm cười nói rồi mày xem anh xử lí thế nào.

Vở kịch quá dài, hơn hai tiếng, xem mệt cả người, rồi cũng đến hồi kết. Khi tập thì anh Đoàn Dũng, trong vai chính uỷ mặt trận, chỉ quay điện thoại về chỉ huy sở mặt trận báo cáo với Đại tướng. Nhưng khi đó, anh Đoàn Dũng chạy vụt xuống đứng trước mặt cụ, rập chân ưỡi ngực chào.

Cụ bị bất ngờ, lúng túng đứng lên.

 Anh Đoàn Dũng nói to, dõng dạc từng tiếng một: Báo cáo Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh mặt trận, chiến dịch Điện Biên Phủ đã hoàn toàn thắng lợi. Tướng Đờ Cát đang ở trước mặt chúng ta!

Cả ngàn người vụt đứng dậy vỗ tay như sầm rền, kéo dài hơn 10 phút, nhiều người khóc oà.

Mình bật khóc nức nở, chạy ra khỏi hội trường đứng khóc, hét to ôi sướng quá trời ơi!

Tối đó về nhà nằm lúc lúc lại bật khóc. Đang viết những dòng này cũng nước mắt như mưa.
NQL

Thân gửi Lập
Nghe tin Cụ Giáp từ trần, mình gửi 2 bài thơ làm đã lâu, nhờ Lập công bố để góp một nén tâm hương đưa tiễn Cụ, cám ơn Lập nhiều.



BÙI MINH QUỐC

THƠ TẶNG ANH VĂN
          ĐỒNG TẶNG CÁC ĐỒNG ĐỘI

Nguyên Giáp phong trần giáp chẳng nguyên
Võ công lừng lẫy quá, cho nên…
Vừa xong đại thắng xương thành ghế
Văn tướng đành thua máu võ biền
Ba miếng đỉnh chung đồng chí choé
Một đời dân khổ vẫn triền miên
Những năm tháng cũ vì dân thế
Dân chủ bao giờ có Điện Biên ?

Đà Lạt
19.8.2002
TỰ HỌA BÀI
"THƠ TẶNG ANH VĂN"

Giáp chẳng nguyên, còn tâm trí nguyên
Tâm thanh trí sáng cốt làm nên…
Ai say đại thắng mình lo tiếp
Tiếp bước văn minh vượt võ biền
Sáu mặt giành ngôi ngôi chấp choé
Ba hồi đục nước đục liên miên
Đã vì dân, nguyện vì dân mãi
Dân chủ quyết làm có Điện Biên .

Đà Lạt
22.12.2002

Thứ Năm, 3 tháng 10, 2013

Hot girl thời bao cấp

Nguyễn Quang Lập
Thời bao cấp trai gái thời thượng không ai gọi là hot boy, hot girl. Không biết miền Nam gọi là gì chứ ở miền Bắc trai gái thời thượng đều gọi là người yêu lý tưởng. Ngay cả cái từ hot hình như cũng chỉ được dùng hơn chục năm trở lại đây thôi, nó bắt đầu từ ngôn ngữ chat chít của lớp trẻ. Mình đã viết hot boy thời bao cấp rồi, giờ kể thêm hot girl cho vui.


 Khác với hot boy có dăm bảy loại, thời bao cấp hot girl chỉ có một loại thôi, ấy là những cô gái mậu dịch viên. Tất nhiên thời nào gái đẹp, gái nổi tiếng đều hot cả, thời bao cấp cũng thế, nhưng thời này gái mậu dịch được trọng vọng nhất, hầu như họ không có đối thủ trong tình trường. Cái thời dân chủ yếu sống bằng tem phiếu, đường sữa mắm muối vải vóc.. nhất nhất đều phải dựa vào tem phiếu, đồng lương cán bộ chỉ có thể sống được nhờ các cửa hàng cung cấp, không thể sống nhờ chợ búa được thì ai đứng cửa hàng kể như cầm mạng sống của cả nhà. 


 Các cửa hàng luôn ở tình trạng thiếu hàng, mọi người xếp hàng chầu chực chờ hàng về để được mua đầu tiên. Chỉ cần  chậm chân một chút hoặc là xách túi về không, hoặc là phải lấy mấy thứ đầu thừa đuôi thẹo. Mình nhớ ngày đó ba mình cất phiếu thịt chờ con cái đi học, đi làm ở xa lâu ngày về thăm, ông mới đem phiếu ra cửa hàng thịt. Ông dậy từ 4 giờ sáng ra cửa hàng đứng xếp hàng chờ đến 7 giờ cửa hàng mở cửa. Thế mà nhiều khi ông phải xếp thứ mấy chục. Chưa khi nào ông mua được cân thịt ngon. Thịt ngon đều để dành cho cấp trên, người nhà, người quen, người trong cửa hàng trong công ty của mậu dịch viên. Mua được cân thịt là may rồi, chẳng ai dám mơ có được cân thịt ngon. Ba mình xách cân thịt về, mồ hôi muối trắng lưng áo, nói cười hể hả như là nhặt được cân thịt ở đâu về chứ không phải đi mua thịt tiêu chuẩn. Lúc nào ông cũng khoe mình đã gặp may. Khi thì khoe đứa học trò nó nhường cho mua trước. Khi thì khoe đến lượt ông mua xong là hết sạch thịt chỉ còn lòng. Khi thì khoe hết thịt rồi nhưng cô bán thịt nhận ra người quen, cô linh động bán cho phần thịt cô để dành cho người nhà. Cả nhà nghe ông kể ai nấy mừng húm, nói may hè may hè.

 Mình nhớ hồi ở Huế, mình làm việc cùng phòng với thằng T. Thằng này thiên tài về quan hệ, thích quen ai là nó quen được liền. Một hôm có cô mậu dịch tìm đến phòng mình tìm nó. Nó kéo cô vào phòng, nói đây là cô A. ở cửa hàng B. Cả phòng bỗng ngẩng phắt lên mặt mày sáng trưng, không ai bảo ai tất cả đều xúm đến rồi rít hỏi han mời mọc. Thằng T. vắt chân chữ ngũ, mặt vênh lên y chang nó vừa quen được ông thủ tướng.

 Anh M. là con ông phó chủ tịch huyện. Anh đi bộ đội lên đến hàm đại uý, hàm ấy gọi là siêu, cũng là “đồ quí hiếm”. Ở nhà bố anh dấm sẵn cho một cô mậu dịch viên. Khi anh về phép bố anh dẫn đến xem mặt.  Anh chê xấu. Bố anh trừng mắt lên, nói ngu lắm, vàng đó con ơi, tao quyền thế lắm mới kiếm được cho mày đấy, đừng có tưởng bở. Anh vẫn chê. Cô này biết được, cười cái xoẹt, nói đó chê thì đây cũng nỏ thèm, tưởng đại uý là to à. Chỉ trong tuần lễ cô cưới ngay một ông thiếu tá trước mặt anh, ông này còn đẹp trai hơn cả anh nữa.

Thời mình đi lính chơi thân với thằng Q. Thằng này cực đẹp trai lại hát hay đàn giỏi, đi đâu gái chạy theo cả đàn. Chị nó ở nhà viết thư cho nó, nói chị đã dấm cho em một cô rất xinh xắn, khoẻ mạnh, nết na. Mày đồng ý thì để chị nói chuyện với nó. Thằng Q. làm chảnh, viết thư nói chị cứ từ từ, để em về xem có đồng điệu tâm hồn không đã. Thư sau chị nó dục, nói em quyết nhanh lên, ba mạ chờ ý kiến em để làm lễ bỏ trầu. Thẳng Q. vẫn thờ ơ, viết thư nói chị ơi em làm sao quyết được khi chưa biết tâm hồn người ta có đồng điệu hay không. Chị nó lại viết thư, lần này kể chuyện kĩ hơn, nói con bé hiện bán ở cửa hàng tổng hợp huyện em ạ. Thằng Q. đọc thư đến câu này, vội vàng tót ra bưu điện đánh điện khẩn về, nói em đồng ý, chị nói ba mạ làm lễ bỏ trầu cho em. He he.

Thứ Tư, 2 tháng 10, 2013

Lời thề

Phạm Thị Hoài
Thủ tướng Việt Nam –  và những người viết cho ông  bài diễn văn vừa đọc ngày 27-9 trước Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc – có lẽ đã rất đắc ý với câu trích dẫn “Một người vì tất cả, tất cả vì một người”.

Mang lời thề sống chết vì nhau của ba chàng ngự lâm trong một cuốn tiểu thuyết kiếm hiệp Pháp lấy bối cảnh là thế kỉ 17 để rọi sáng phương châm cộng tác phát triển của thế giới hôm nay, xin lỗi, là chệch hơi nhiều nốt. Tất nhiên trong thế giới hôm nay câu đó vẫn dùng tốt – và dùng nhàm – đặc biệt trong phim mafia rẻ tiền, trên sân cỏ và bên bàn nhậu, nhưng tưởng rằng nó sẽ đóng đinh ấn tượng cho một cử tọa chính trị quốc tế thì trong trường hợp đáng thông cảm nhất, đó là bệnh tưởng bở ở văn chương.


 Tôi để ý, cùng với những chiếc cà-vạt ngày càng nhiều mầu[1], các bài diễn văn xuất khẩu của ông Nguyễn Tấn Dũng cũng ngày càng văn vẻ. Chúng còn lâu mới biến người đứng đầu chính phủ Việt Nam thành một nhà hùng biện. Ông vẫn liên tục vấp trên những dòng chữ mà người ta thấy rõ là không tuôn ra từ chính ông: ngôn từ đang phát ra và ông chẳng có gì thuộc về nhau, mỗi bên đi một ngả như người dưng nước lã; thậm chí người ta còn phải lo rằng ông bị biến thành trò cười trên truyền thông nước ngoài[2]. Chúng cũng không hóa phép biến một chính khách chải chuốt tỉnh lẻ thành một ngôi sao trên chính trường quốc tế, Thủ tướng Việt Nam có diện cà-vạt đính kim cương và trích dẫn Shakespeare thì cũng chỉ cao bằng đúng tầm bệ đỡ của quốc gia mà ông đại diện. Nhưng phải thừa nhận rằng những bài diễn văn ấy đỡ “phô” hơn, thậm chí dễ chịu hơn hẳn, và khác xa những diễn văn nội địa của chính ông và các nhà lãnh đạo ở trong nước. Khác từ cách hành văn khác đi.

Một câu văn chính trị chuẩn trong tiếng Việt hiện đại là một thiết kế gợi nhớ đến những dàn giáo trùng trùng lớp lớp. Nó có thể mở đầu như sau: “Thực hiện Nghị định A, nâng cao quyết tâm B, phát huy thế mạnh C, kiên quyết khắc phục yếu kém D, chủ động nắm bắt thời cơ Đ, tăng cường quản lí E, đề cao tinh thần F, thắt chặt G, củng cố H…” Sau hàng ngàn cụm vị ngữ nối tiếp nhau xông lên ấy, chủ ngữ cũng xuất hiện, chẳng hạn “toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta“, để ngay sau đó chủ ngữ siêu nhân ấy sẽ thực hiện hàng vạn hành vi phức tạp trong cùng một câu, có thể như sau: “khai thác các lợi thế I, xây dựng vững chắc K, chỉnh đốn toàn diện L, phát triển sự nghiệp M, phát huy những mặt tích cực N, hạn chế những tiêu cực O, hoàn thiện và mở rộng P, đào sâu và đẩy mạnh Q, tích cực triển khai R, quyết liệt thực hiện S…”[3] Có người giải thích cho tôi rằng những dàn giáo chóng mặt này không xuất hiện trong các diễn văn xuất khẩu của Thủ tướng, đơn giản vì lí do dịch thuật. Tôi không thấy việc dịch những quái vật tiếng Việt ấy sang một ngôn ngữ quốc tế là bất khả, song tác động của loại diễn văn dàn giáo đó như thế nào, chính ông Thủ tướng và nhóm ghostwriter của ông biết hơn ai hết. Chính trị không phải chỉ là nói gì, mà nói như thế nào. Chính trị còn là phong cách.
Người ta nói đến Abenomics của Thủ tướng Nhật Abe Shinzō, Likonomics của Thủ tướng Trung Quốc Li Keqiang (Lí Khắc Cường) như những chương trình cải cách sâu rộng hai nền kinh tế quốc dân này. Tôi nghĩ Thủ tướng Việt Nam cũng có thể cống hiến một khái niệm, Duconomics, mà nội dung là duy trì một nền kinh tế bí hiểm ở trong nước kết hợp với phong cách cà-vạt diêm dúa và diễn văn xuất khẩu bay bướm ở nước ngoài.

Trở lại với chuyện lời thề. Trái với dư luận dai dẳng và đôi khi sốt hầm hập về tranh chấp ở tam giác thượng tầng chính trị Việt Nam, càng ngày tôi càng có cảm giác rằng bộ ba ngự lâm Nguyễn Tấn Dũng – Trương Tấn Sang – Nguyễn Phú Trọng là một khối bền vững, cùng sống, cùng chết và cùng hết lòng phụng sự chiếc ngai vàng của Đảng theo một phân công lao động hoàn hảo. Trong khi người đứng đầu chính phủ đánh bóng một bộ mặt Việt Nam văn minh, hội nhập, tân thời thì ông trùm Đảng mài vũ khí giáo điều và vị Chủ tịch Nước làm chiếc đồng hồ quả lắc, để thỉnh thoảng phát ra thậm chí vài tín hiệu như thể chúng ta đang ở những phút cuối cùng trong đêm trước của một cuộc cách mạng đầy mong đợi.

“Một người vì tất cả, tất cả vì một người”, lời thề ngự lâm như một trích dẫn dở ở bục Liên Hiệp Quốc là thực tế không cần trích dẫn tại chóp bu quyền lực chính trị Việt Nam.

Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả
........................................  

[1]Đệ tử cà-vạt số một của Thủ tướng chắc chắn là Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng, đệ tử cà-vạt số hai có thể là Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh. 

[2] Mấy ngày trước trên kênh truyền hình Pháp Canal+, khán giả có thể thưởng thức xuất diễn của Thủ tướng Việt Nam khi ông  ”trở lại thăm nước Pháp ở Châu Âu và trên thế giới“.

[3] Hiến pháp Việt Nam, văn bản chính trị tối cao của quốc gia, là chỗ lí tưởng để trưng bày những mẫu văn dàn giáo như vậy. Ví dụ: “Nhà nước ban hành chính sách đầu tư, phát triển sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ sức khỏe của nhân dân; huy động các nguồn lực để xây dựng nền y tế hiện đại, công bằng, hiệu quả; phát triển nền y học Việt Nam theo hướng kết hợp đông y và tây y, phòng bệnh và chữa bệnh; thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân và tạo điều kiện để mọi người dân được chăm sóc sức khỏe; ưu tiên thực hiện chương trình chăm sóc sức khỏe cho đồng bào miền núi, hải đảo, dân tộc thiểu số và các vùng đặc biệt khó khăn khác.” (Điều 62.1. Dự thảo sửa đổi 2013)

Hot boy… hot beo

Nguyễn Quang Lập
Tuổi lấy chồng của con gái ngày mỗi cao, xưa quá hai mươi đã sợ ế chồng lo sốt vó, nay nhiều cô ba mươi tuổi vẫn  nhởn nhơ như tuổi đang xuân, chưa đến bốn mươi chưa lo ế.  Sở dĩ như vậy vì ngày xưa việc chồng con có cha mẹ lo, cứ đến tuần cập kê là cha mẹ đã sắp đặt cho một tấm chồng, may nhờ rủi chịu, khỏi phải lo lắng gì.

Ngày nay cha mẹ thả cho tự do chọn lựa, tưởng thế là sướng hoá ra gay cấn vô cùng, thằng mình ưa thì nó không ưa, đứa không ưa thì nó lại ưa. Vả, cô nào cô nấy đều ham trai thời thượng,  nay gọi là hot boy xưa thì gọi là người yêu lý tưởng. Người yêu lý tưởng có một nhúm, con gái có cả đàn, phân phối làm sao cho đủ.

Người yêu lý tưởng cũng tuỳ theo thời thế mà đổi thay, thời này anh là hot boy thời sau anh chỉ là hàng tồn kho, chả ai thèm. Ở đâu không biết chứ ở ta thời này chuyển sang thời kia nhanh như chớp mắt, không thể lường trước được.

Những từ năm 60-70 thế kỉ trước người yêu lý tưởng  là anh bộ đội. Có lẽ thời loạn, anh bộ đội nổi lên như mẫu người hùng, được xã hội yêu quí ngưỡng mộ. Thoạt kì thuỷ con gái hễ cứ thấy anh bộ đội là mê, sau biết phân biệt lính bộ binh, lính phòng không, lính hải quân, không quân, thiết giáp…Không quân là số 1, hải quân là số 2, bộ binh bị xếp vào hàng bét dem.

Phải cái các chị không biết phân biệt quân hàm quân hiệu. Trừ lính hải quân, còn lại thấy lính nào cũng giống lính nào. Ra đường gặp các anh  bộ đội chọc ghẹo, mặt cứ hất lên ra vẻ lắm, nhưng vừa đi qua là lập tức túm lấy con nít tụi mình hỏi rối rít, nói răng răng, quân chi quân chi. 

Mê quân này quân kia chán, các chị mới để ý đến chức vụ. Ai sống thời này đều nhớ như in câu hát em yêu anh trung uý, không yêu anh binh nhì một tháng năm đồng...Lương trung uý 75 đồng, thời mà cán bộ viên chức chỉ có 39 đồng năm hào thì 75 đồng là một đồng lương mơ ước. Sĩ quan thường mặc áo đại cán bốn túi, miền trung gọi là bâu, thế nên mới có câu: râu thì râu bốn bâu em cũng lấy.

Chị em nhìn quân hàm cứ mù mịt, chẳng biết chức gì ra chức gì, cứ tưởng nhiều sao là chức to, lắm khi bị hố điếng người. Một chị thấy anh đeo quân hàm ba sao đến chơi, mừng húm. Người nhà đi hỏi, ưa liền. Sau có người nói đồ gạch vải, không phải gạch đồng. Chị hoảng lên hỏi răng răng. Người này nói ba sao một gạch vải là thượng sĩ thôi,  ba sao một gạch đồng mới là thượng uý, chị ngồi khóc sưng mắt. Lần sau có cô bạn nào sắp có chồng bộ đội chị đều nhắc gạch vải ẻ vô nha, nhiều sao cũng ẻ vô!

 Một chị tiếp anh chuẩn uý ở phòng khách. Mạ chị đi chợ về, thấy quân hàm trọc lóc một gạch, bà đi qua lờ không chào, kéo chị vào phòng trong nghiến răng nói nhỏ răng ngu rứa con, hắn có sao đom mô mà yêu với đương, ngu ngu! 

Chị nói mạ tề, một gạch đồng là chuẩn uý của người ta đó. Mắt bà sáng lên nói rứa a rứa a, quăng cái rổ chạy ra túm lấy tay anh chuẩn uý cười xoe xoe, nói con tới chơi đa con! Chuyến ni dứt khoát phải ở lại ăn cơm với nhà bác, không bác giận đó.

Một chị có anh thiêú tá đến chơi, chị cứ ngồi hất mặt lên, trả lời nhát gừng. Ba mạ chị cũng ngồi trong bếp không thèm ra chào. Chán, anh này bỏ về.  Có người hỏi răng chị chê anh nớ. Chị trề môi nói đồ một sao quẹt quẹt. Sau biết một sao nhưng có hai gạch đồng là thiếu tá chị sững sờ, đập hai tay vào má kêu to: ui chao tui lại ngu rồi!

Kịp đến thời người yêu lý tưởng là lái xe. Đấy là những năm 70-80, thời này đói kinh hồn. Hậu chiến đói kém là phải, nhưng đói thế này chủ yếu là hậu quả của chế độ bao cấp, “cái gì cũng phân mà phân thì như cứt”, lại thêm ngăn sông cấm chợ khắp nơi. Phàm là hàng hoá không phải hàng quốc doanh đều bị coi là hàng lậu, cách nhau chừng vài trăm cây số giá cả có thể cách nhau chừng 4, 5 lần là chuyện thường.

Thành ra béo nhất là mấy anh lái xe, hễ ai cầm được cái xe nhà nước là coi như cầm được sự sống của cả nhà rồi. Cánh lái xe sống nhờ vào dân buôn lậu, ấm no cũng nhờ đấy mà ra. Càng ngăn sông cấm chợ thì dân buôn lậu và cánh lái xe càng béo. “ Ai ơi yêu lấy anh tài/ vào trong  thịt cá ra ngoài bảnh bao”.

Hễ tài xế xuất hiện là dân tình đã lác mắt. “Quần ximili vừa đi vừa ngắm, dép tông Lào áo trắng thảnh thơi”. Mùa hè xe đỗ đường cái, con gái đi chơi từng tốp, lái xe bật đèn pha, các cô tay che mắt liếc, dẩu môi nói chi mà vô duyên rứa hè, cười cái, ngoảy đít cái, chạy. Qua khỏi bóng đèn thì túm tụm nhón chân nhìn qua cabin ngắm trộm lái xe, thì thầm trẻ hè trẻ hè.

Có cô nào được lái xe mời ngồi cabin, bụng hí hửng lắm, nhưng mặt  làm bộ tỉnh bơ nhìn thẳng, cái cổ cứng ngắc, tay gác cửa xe. Thấy bạn quen thì thò cổ ra, kêu: nời, đi mô đó. Mấy bạn cô ngửa cổ nhìn cô đầy ngưỡng mộ, nói sướng hè sướng hè. Xe đi qua thì nhếch mép cười nhạt, người này nói đồ mặt như mặt mo mà cũng lấy được lái xe hà bay, người kia nói ừ đo, đúng là may hơn khôn, to l. hơn đẹp mặt.

Con gái trong xóm làm gì thì làm, không thể không đi qua ngõ nhà có xe tải đỗ một lần, mắt hất lên ra cái điều không thèm nhìn vào, mắt thì liếc xéo vào nhà, thấy cô con gái đang ti toe với anh lái xe thì mím môi bịp một cái như cái rắm, nói chà, báu lắm đó mà vênh! Thế nhưng hễ lái xe gọi một tiếng em ơi là lập tức mặt đỏ rực, cười tít, liếc một cái, rồi giả đò bỏ chạy, vừa chạy vừa ngoảnh lại, sung sướng ra mặt.

 Cánh lái xe vào quán được coi là dân thượng lưu, được trọng vọng hơn cả lãnh đạo huyện. Trong làng có cô nào cưới được chồng lái xe, làng xóm bàn tán mê man cả tháng, chẳng khác gì con gái xưa vớ phải trạng nguyên.

Cùng thời này có một người yêu lý tưởng nữa là phó tiến sĩ đi tây về. Món phun thuốc sâu này ngày xưa là thứ bằng cấp quí hiếm, cao sang cực kì. Thời buổi Một yêu anh có may ô/ hai yêu  anh có cá khô để dành thì  cái bàn là, chiếc xe đạp cuốc, cái quạt tai voi…là cả một gia tài lớn, làm loá mắt các cô gái đẹp. Nếu trong nhà có ti vi neptune, tủ lạnh Saratop thì có thể cưới được hoa hậu. 

  Ở Hà Nội hồi này cứ chiều chiều các đồng chí phun thuốc sâu mặc quần zin Thái, áo bay Liên xô, đeo đồng hồ ponzot, cưỡi xe đạp cuốc lượn vè vè quanh Bờ Hồ, thỉnh thoảng nhả ra mấy câu tiếng Nga. Mỹ nhân Hà thành không cô nào không dán mắt vào gáy họ.

Nhà nào có được chàng rể là phun thuốc sâu ở Tây về đều lấy làm hãnh diện lắm. Khách đến nhà thấy cái tủ lạnh Saratop đặt giữa phòng khách, trên có bình hoa tươi; góc phòng còn có cái ti vi Peko, phủ tấm voan trắng; cạnh bàn uống nước đặt cái ấm điện mới coóng sáng loá; trên vách treo ảnh chàng rể đứng ở xứ tây, nụ cười rạng rỡ… ai nấy đều trầm trồ, nói nhà bác thật tốt phúc quá. Chủ nhà mỉm cười vẻ khiêm tốn, nói cháu nó nghiên cứu sinh ở Nga về, mình chẳng ham gì, chỉ ham ba cái chữ thôi bác. Ba tiếng nghiên cứu sinh hồi đó vang lên sao mà nghe sang quá đi mất.

Nhưng rồi  phun thuốc sâu cũng chỉ tồn tại chưa đầy chục năm, những năm 80- 90 là thời kì của  người yêu lý tưởng tàu viễn dương. Nhà nào có người được một suất đi tàu viễn dương thì cả phố cả huyện đều biết, nhà đó được tôn lên bậc vương giả.

Ở nhà mái bằng hai ba tầng, xài ti vi màu, đầu băng Nhật, đi hon đa cup 50, cup 70, cup 82 kim vàng giọt lệ… đều là của mấy nhà có người đi tàu viễn dương, tuyệt không có ai. Mấy hot boy lái xe, phó tiến sĩ cứ phải xách dép chạy dài.

Nhìn thấy cô nào tay đeo vòng vàng, đồng hồ Senko, cổ quàng dây chuyền vàng hạt ngọc, đi cup 82 kim vàng giọt lệ chạy thong dong trên phố thì cầm chắc đó là vợ con mấy bác tàu viễn dương. Mấy cô xách làn vào chợ, thong thả nhặt của ngon vật lạ chất đầy làn không thèm mặc cả, dưới cái nhìn thèm khát bốc cháy của không biết bao nhiêu ánh mắt đàn bà.

Cô lại xách làn thong dong đi ra, nhất định có người gọi, nói nời… chồng mới về à? Thể nào cô cũng dừng lại khẽ gật đầu, nói về đựơc vài ngày rồi lại đi, suốt đời lênh đênh trên biển vất vả lắm. Miệng nói thế nhưng mắt long lanh rạng ngời hạnh phúc.

Có lẽ đến người yêu lý tưởng tàu viễn dương là kết thúc các loại hot boy thời bao cấp, chuyển sang thời kinh tế thị trường là các doanh nghiệp trẻ, buôn lậu trẻ, quan lại trẻ, tham nhũng trẻ. Nhưng mấy hot boy này không được hot cho lắm.

 Cuộc sống đã đổi thay, trí khôn đàn bà cũng đã thay đổi, họ biết lấy mấy ông giàu có nhờ trốn thuế nhờ tham nhũng phúc chưa kịp hưởng hoạ đã gần kề, hãi lắm. Nhưng không biết lấy họ thì chẳng biết lấy ai, kiếm đâu ra mấy anh ca sĩ, mấy chú đá bóng, mấy ông cai thầu, mấy bác đầu nậu, khó lắm. 

Có lẽ vì thế mà tuổi lấy chồng ngày nay cứ tăng vọt chóng mặt, gái không chồng mà có con ngày một thêm nhiều.  Thôi thì thà kiếm lấy đứa con ngoài giá thú nuôi lấy sau này còn nhờ cậy, hot boy hot beo, lý tưởng lý teo, mệt lắm.