Thứ Hai, 29 tháng 10, 2012

Ông Khanh, hãy gửi thư kêu cứu cho Thủ tướng!

Ông  Nguyễn Văn Khanh vừa có thư kêu oan ( tại đây), trong đó ghi rất rõ ràng: “Tôi không ra lệnh, không chỉ đạo phá nhà ông Đoàn Văn Vươn và không chỉ đạo nội dung nào khác, tôi đã công bố kết thúc nhiệm vụ của đoàn cưỡng chế lúc 17 giờ ngày 5.1.2012”....“Khoảng 8 giờ 30 phút cùng ngày, Chủ tịch UBND huyện và Bí thư Huyện ủy đến hiện trường trực tiếp chỉ đạo lực lượng cưỡng chế… nhiệm vụ của Trưởng ban cưỡng chế bị triệt tiêu”.


Theo báo Dân Việt, đơn kêu cứu của ông Khanh chỉ  gửi  cán bộ về hưu, lãnh đạo cùng một số cơ quan ban ngành TP.Hải Phòng mà không thấy gửi cho Thủ tướng. Chính thủ tướng chỉ đạo vụ này, Thủ tướng cũng đã kết luận rất rõ ràng minh bạch ( tại đây), tại sao ông Khanh không gửi cho Thủ tướng ?


Thủ tướng bận trăm công ngàn việc, mấy ông trợ lý cũng bận việc tùm lum, chắc không biết những gì đã xảy ra sau ngày 10/2/2012, ngày mà Thủ tướng thông báo kết luận về vụ Tiên Lãng.


Có thể Thủ tướng không biết anh em ông Đoàn Văn Vươn bị bắt ngày 5/1/2012  đến nay gần tròn 10 tháng, quá hai hạn tạm giam vẫn không đem ra xét xử. Ông Lê Văn Hiền vừa bị cách chức chủ tịch huyện liền được đưa lên Sở  nội vụ Hải Phòng.


Xung quanh vụ  "hủy hoại tài sản"  có thể Thủ tướng cũng không biết, ông Đỗ Hữu Ca bảo đấy là cái chòi "phá hay không phá không thành vấn đề", ông Lê Văn Hiền cam đoan "không có chuyện huyện chỉ đạo phá nhà ông Vươn'. ông Đỗ Trung Thoại khẳng định " nhân dân bức xúc nên đã phá". Đặc biệt  ông Nguyễn Văn Thành bí thứ thành ủy Hải Phòng  đã nói rất hùng hồn thế này: "“Báo chí nói sai, ghép ảnh chỗ khác chứ đâu có chuyện xe ủi nhà ông Vươn, không ca ngợi công an-bộ đội lại có biểu hiện bôi nhọ"


Nếu ông Khanh không nhắc đến điều đó  cho Thủ tướng là ông Khanh sai lầm. Chắc chắn khi biết rõ tất cả những điều đó Thủ tướng sẽ đập đùi kêu to, nói ôi thôi bỏ mẹ rồi,  giao cho đám gây ra vụ này xử lý vụ này có nguy không cơ chứ!.


Thủ tướng đã rất đồng tình việc không để thủ tướng làm trưởng ban chống tham nhũng, vì ngài biết thừa đó là việc vừa đá bóng vừa thổi còi rất nguy hại cho đất nước, thì hà cớ gì ngài để cho Hải Phòng vừa đá bóng vừa thổi còi?


Hãy gửi thư cầu cứu cho Thủ tướng đi ông Khanh, nhận được thư kêu cứu của ông nhất định Thủ tướng sẽ di lí vụ Tiên Lãng về Hà Nội. Hơn lúc nào hết, quang minh chính đáng là việc thủ tướng cần làm lúc này .


 Hãy tin Thủ tướng đi ông Khanh, bởi vì dù thế nào thì thủ tưởng cũng là thủ tướng của nước Việt thân yêu của chúng ta,  éo phải thủ tướng của đảng Hải Phòng!


Nguyễn Quang Lập


 

Chủ Nhật, 28 tháng 10, 2012

Văn hóa Trung cộng

Hồi kí của cụ Nguyễn Trọng Vĩnh ( tại đây),  có kể chuyến đi thăm TQ của Võ Đại Tướng năm 1976, khi đó Võ Đại Tướng là bộ trưởng Bộ quốc phòng.  Đoàn quân sự cao cấp của Võ Đại Tướng đi thăm Tỉnh Cương Sơn (di tích cách mạng của Trung Quốc) cùng với đoàn Tổng tham mưu trưởng quân đội Triều Tiên: "Người ta đã bố trí đoàn Triều Tiên (cấp thấp hơn đoàn ta) ăn ở phòng sang trọng hơn, bố trí đoàn ta ăn ở phòng thường, thậm chí cho ngồi những chiếc ghế không có lưng dựa."...Trên xe lửa, phía Trung Quốc vẫn chưa thôi thái độ xấu, cố dọn cho đoàn có cả một chiếc bát mẻ miệng".


Mình nghĩ không ra tại sao một đất nước có cả tỉ dân,  có cả nền văn hóa 7 ngàn năm vô cùng vĩ đại lại đẻ ra mấy ông Trung cộng bần hàn đến vậy?


Việt Nam xưa nay đối xử  với TQ bất kì thời điểm nào cũng rất lịch sự, nếu không muốn là lễ độ, kể cả năm 1979 chiến tranh biên giới xảy ra, hai bên mạt sát nhau rất kinh thì trên phương diện ngoại giao Viêt Nam cũng không bao giờ dở mấy trò bần hàn như mấy ông Tàu.


Ừ thôi, đang đánh nhau, thù nhau dở mấy trò thối kia  cũng có thể hiểu được. Nhưng bây giờ Tàu đang ra sức giương cao ngọn cờ " 16 chữ vàng", " đồng chí bốn tốt" để dụ dỗ Việt Nam theo Tàu mà Tàu cũng dở mấy trò thối kia thì thật là khốn nạn.


Nói có sách, bà con vào đây mà xem: 16/09/201, Thượng tướng Lý Kế Nại, Chủ nhiệm Tổng bộ Chính trị Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc đón Trung tướng Ngô Xuân Lịch, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.  Người ta chào đón Việt Nam bằng một loạt tiếng Tàu, tiếng Anh, cứ làm như nước Việt không có chữ.



Tất nhiên ông Lịch bắt hai tay là éo ra cái gì rồi, việc gì mà vồ vập nồng nàn trong khi họ đang rắp tâm  cướp biển đảo nước mình? Nhưng qua đó thấy Tàu rất giỏi giở những trò thối trong ngoại giao để chứng tỏ ta đây là nước lớn, là mẫu quốc. Cái lối bắt tay kẻ cả như bắt tay cấp dưới cho dù hai ông đồng cấp với nhau, đủ thấy sự trịch thượng rất lố bịch của ông Tàu.



Xem đây này, chỉ đón mấy ông nhà báo quèn TQ, báo QĐND cũng cho chữ  Tàu ở trên cùng, rất trọng thị .


Văn hóa nào đẻ ra lối ngọại giao lố bịch nói trên?


Không lẽ  là văn hóa 7 ngàn năm vĩ đại củaTrung Quốc?  Không  đâu, chỉ có văn hóa Trung cộng, đích thị là văn hóa Trung cộng. Mình tin là thế.


Cũng giống như khi mình vô Nam sinh sống, mấy ông Nam Kì hay chửi văn hóa Bắc Kì. Mình đã nói các ông nhầm rồi, thứ các ông chửi không phải văn hóa Bắc Kì, đó là văn hóa Bắc Cộng.


Nguyễn Quang Lập

Thứ Sáu, 26 tháng 10, 2012

NGÔN TỪ QUA KHẨU VĂN NGUYỄN QUANG LẬP

Nguyễn Hoài Nguyên


1.Dẫn nhập


1.1 Nguyễn Quang Lập đã khẳng định được tên tuổi của mình qua truyện ngăn , tiểu thuyết, viết kịch, làm phim. Nhưng phải đến Kí ức vụn, mà trước đó là blog Quê choa, ông mới trở nên nổi tiếng, được công chúng và giới phê bình đặc biệt chú ý. Từ blog Quê choa đến Kí ức vụn, Nguyễn Quang Lập đã tái cấu trúc kí ức của chính bản thân mình và những người mình từng gặp gỡ, quen biết bằng một hình thức ngôn ngữ văn xuôi mới lạ, hấp dẫn : khẩu văn.


1.2 Hình thức khẩu văn đã xuất hiện trong một số sáng tác của Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan,… nhưng phải đến Nguyễn Quang Lập mới trở thành một hình thức văn lạ , một loại ngôn ngữ văn xuôi mới. Văn chương xét đến cùng là một cuộc chơi của mỗi cá tính nên Nguyễn Quang Lập đã chọn cho mình một lỗi viết riêng. Khẩu văn Nguyễn Quang Lập có sự pha trộn của lỗi nói dân gian tự nhiên , sinh động với thể văn hồi kí phóng túng, đầy cảm hứng. Khẩu văn Nguyễn Quang Lập là viết theo lối nói, như tác giả đang nói/trò chuyện trực tiếp với người đọc, do đó, đọc  Kí ức vụn, ta khoái cảm như nghe những dòng âm thanh đang chạy rần rật, như thấy những con chức đang cựa quậy trên trang giấy. Bài viết này góp phần làm sáng tỏ đặc điểm khẩu văn Nguyễn Quang Lập


2.Đặc điểm khẩu văn Nguyễn Quang Lập


      2.1 Nhận xét chung


      Từ những mảnh vụn kí ức trên chiếu rượu quê choa, sau này, một phần trong số đó gom thành Kí ức vụn, Nguyễn Quang Lập đã khởi xướng một dòng văn học khẩu văn. Qua lối viết như lời kể bằng miệng, từ miệng, với những từ ngữ khẩu ngữ thô ráp, những yếu tố địa phương rặt phương ngữ Quảng Bình, vùng phương ngữ Bắc Trung Bộ, thỉnh thoảng lại văng ra những từ thông tục ngổn ngang, bò, chạy, sấp ngửa nhưng lại níu mắt người đọc ; câu văn tuồng như lời nói hàng ngày với những trùng điệp, đan lặp, chuồi lẫn đan xen lời dẫn thoại, lời thoại, người thoại,…tất cả định hình một lối khẩu văn Nguyễn Quang Lập. Đó cũng chính là đặc điểm nổi trội của một hình thức văn xuôi mới lạ, hấp dẫn của Nguyễn Quang Lập.


     2.2 Cách sử dụng từ ngữ


     Để tạo nên ngôn từ nghệ thuật, nhà văn có thể sử dụng các lớp từ ngữ khác nhau. Cố nhiên, việc khai thác và sử dụng chủ yếu lớp từ ngữ nào là tùy thuộc ở kiểu lựa chọn của người viết. Đọc các mẫu kí ức của Nguyễn Quang Lập, chúng ta thấy ông chủ yếu sử dụng các lớp từ ngữ gồm từ khẩu ngữ, từ địa phương và từ thông tục, biến chúng thành những mã thẩm mĩ có sức ám gợi người đọc, tạo nên nét cá tính khẩu văn. Trước hết, chúng ta tìm hiểu lớp từ khẩu ngữ. Từ khẩu ngữ ( còn gọi từ hội thoại) là những từ được dùng ở lời nói miệng trong sinh hoạt hàng ngày, nhất là đối thoại. Lớp từ khẩu ngữ được Nguyễn Quang Lập sử dụng thường xuyên, dày đặc nhưng có chọn lọc, phù hợp với từng đối tượng cụ thể, gắn với những ngữ cảnh nhất định. Lớp từ khẩu ngữ đã thực sự tạo được những liên tưởng bất ngờ , những hàm nghĩa tinh tế, sinh động, có tác dụng trong việc làm cho đối tượng, sự việc được miêu tả thực hơn, tạo nên những nhận thức mới.Mỗi người đọc, dù khác nhau về tuổi tác , trình độ nhưng khi đọc Kí ức vụn của Nguyễn Quang Lập đều có cảm giác như đang nghe tiếng nói của lòng mình, như đang tiếp xúc với những lời nói quen thuộc hàng ngày, tự nhiên, sinh động. Đó là những từ ngữ dùng để xưng hô thằng , con, mụ, mẹt, thằng cu, anh cu, ông cu,…và cách xưng gọi thằng Á, thằng Tụy, thằng Du, thằng Nguyên (Phạm Xuân Nguyên), con Hà, con Sử, con Thuỷ, mụ Cà, mẹt Lạm, cu Cá, cu Đô, thằng cu Hói, anh cu Luật, ông cu Hoi,… một cách bỗ bã , suồng sã nhưng gần gũi thân mật. Chẳng hạn, trong Thằng sứt môi, Nguyễn Quang Lập tái hiện kí ức tuổi thơ với những buồn vui như mình là người trong cuộc: Thằng Hoàn thổi sáo dọc bằng mũi hay cực. Nó cứ ngồi trước nhà con Sử thổi hết bài này sang bài khác. Con Sử thì ngồi ở cửa sổ ngóng ra. Có lẽ nó cũng muốn ra ngồi với thằng Hoàn nhưng sợ ba mạ nói.{2,13} Còn khi tái hiện kí ức, tác giả tự xưng mình hết sức tự nhiên, tạo được không khí gần gũi thân mật, xem người đọc như những người bạn thân thiết đang trò chuyện với mình. Chẳng hạn, kể chuyện Con ăn ruồi, tác giả mở đầu bằng câu: Đấy là biệt danh của chị Thuận, người cùng thị trấn Ba Đồn, học cùng lớp một với mình.{2,7}   


Trong Kí ức vụn, những từ khẩu ngữ được nhà văn sử dụng như một công cụ lợi hại nhất để kể, miêu tả, tái tạo những mẫu kí ức – chuỗi những câu chuyện khi thì buồn cười hài hước, khi thì thâm trầm xa xót, khi thì kính trọng nể phục, khi thì cảm thông chia sẻ về những con người, những số phận khác nhau đang hiện về trong mắt người đọc. Đó là các từ như: đâm nghiện, đen thui, vàng hoe, trắng bóc, trơn mồm, mót ( chồng), buồn thiu, gái gú, gái gấm, (cười) khậc, (cười) rẻ, (cười) xoe xoe, è he, ngon ơ, người ngợm, khỏe re, oách kinh, ỏm tỏi, lón thón (Chạy), trơ mép, chắc ăn, tót (vào), ngồi chồm hỗm, há mồm, (nói) lia xia, phim trú, loạng quạng, lêu têu, độp (liền), dở dẹc , tắc tị, lắc mắt, tí tớn, giải déo, phục lăn, bố nhắng, hổ lốn,… Các từ khẩu ngữ được đặt vào những vị trí mà những từ ngữ sách vở bóng bẩy không thể thay thế được. Chẳng hạn, kể về công việc của người bán nước chè trước cổng Viện Văn học, Nguyễn Quang Lập viết: Năm giờ sáng bà dậy, lọc cọc lạch cạch nấu nước pha chè, xách phích nước lón thón chạy ra quán, lại lón thón chạy vào xách cái xô, lón thón chạy vào xách cái ấm, bê cái ghế, bưng cái thau,… cứ từng thứ một như thế, sáu bảy giờ mới mở quán.{2,111} Các từ lọc cọc lạch cạch, lón thón trong đoạn văn phát huy tối đa khả năng tượng thanh tượng hình mà nó vốn có, lại được nhà văn làm mới về ngữ nghĩa nên có khả năng ám gợi người đọc, giúp người đọc hình dung một bà Thiêm đang hiện diện chuẩn bị cho một ngày mưu sinh được lặp đi lặp lại với những tất bật, lam lũ, nhọc nhằn.


Nguyễn Quang Lập còn sử dụng các tổ hợp từ khẩu ngữ hết sức tự nhiên, tần số cao như: chán ốm, mừng húm, sướng rêm, cười ré, khỏe re, giỏi cực, hay hè, sướng râm ran, chán mớ đời, trắng gớm hè, trật chỏng vó, sợ bằng chết, nảy đom đóm, hăng máu vịt, mừng tha dép, câm miệng hến, trơ mặt ếch, khỏe như tru, đập một phát, mặt xanh như đít nhái,…Những kiểu nói lặp từ, những kiểu cấu tạo từ chỉ dùng trong khẩu ngữ hàng ngày xuất hiện dày đặc trong văn Nguyễn Quang Lập: giỏi hè giỏi hè, ừ đo ừ đo, phi công phi keo, sướng cuống cà kê, mừng nha mừng nha, rứa a rứa a, quẹt quẹt ẻ ẻ, thở vô thở ra, trẻ hè trẻ hè, (cười) tít ta tít tít, ê ê trật trật, sai sai ngu ngu, đổi mới đổi mẻo, bờ lốc bờ leo, cười cái liếc cái, văn nghệ văn gừng, viết sách viết siếc, thủ trưởng thủ triếc, tào lao chi khươn, giới hạn giới heo,… Chẳng hạn , trong Kí ức năm hào, có đoạn: Mình nhìn đôi núm vú say sưa, nói hay hè hay hè. Nó nói rồi to bằng người lớn tề. Mình nói tởm hè. Nó lườm nói tởm răng mà tởm, phải to bằng người lớn để cho con bú chứ. Mình nhăn răng cười nói tởm.{2,18}. Qua cách dùng các tổ hợp từ bình dân và rất tự nhiên hay hè hay hè, tởm hè, tởm răng mà tởm, nhăn răng cười, nói tởm, người đọc nhận ra tình bạn gắn bó sâu sắc tuổi thiếu thời, một tuổi thơ trong vắt của tác giả, để rồi từ đó nhớ lại những kỉ niệm tuổi thơ của mình.


Bên cạch lớp từ khẩu ngữ , trong Kí ức vụn còn có sự góp mặt của lớp từ địa phương giàu màu sắc biểu cảm – cảm xúc, còn tác dụng làm tinh tế hóa ý nghĩa cho câu văn. Các từ ngữ địa phương thuộc phương ngữ Quảng Bình nói riêng, vùng phương ngữ  Bắc Trung Bộ nói chung được sử dụng với số lượng lớn, tần số cao như: bọ ( bố), mạ (mẹ), y chang (giống hệt), cạu (rổ), rứa (thế), răng rứa (sao thế), mồm (miệng), mần (làm), ni (này), mi (mày), chi hề (sao thế),  nha (nhé), bâu ( túi), tra (gác), hà bay ( thế sao), trờ (lướt), bụ(vú), tụi bay (bọn bay), đụng sự ( có sự cố), con nít ( trẻ con), chơ ( chứ), tịt ( im lặng), phởn (thích thú), chơ răng (chứ sao), nời ( này), trốôc ( đầu), rị mọ (quê mùa), lòi (thòi), trớ ( khạc ra), nớ ( ấy), tề (kìa), ở lổ (cởi truồng), mốc xơ (còn lâu), bạ men (lân la), ui ui (ôi ôi), mần răng (làm sao), mô (đâu), ui xời (ôi trời), cột (buộc), trởn (chừa), quặc ( cãi lại), nại (kiện), cù nhằng (chẳng vào đâu), phịa (bịa), trợt mặt (chịu đựng),… Các từ ngữ địa phương được sử dụng hết sức tự nhiên như chính lời ăn tiếng nói hằng ngày của người dân quê ông nhằm bộc lộ cách nghĩ, cách cảm của quê choa, định hình một thương hiệu bọ Lập. Trong Kỉ niệm nhỏ về Võ Đại Tướng, các từ địa phương đã làm nên giọng điệu cho câu văn: Quý Doãn nói cụ đánh thẳng hai đế quốc to đã trợt mặt rồi, mình còn đòi hỏi cái chi nữa. {2,17} Các từ trợt mặt, chi (gì) thể hiện cách nói thô ráp nhưng quyết liệt, trầm nặng nhưng dứt khoát của người miền Trung gió Lào cát trắng, khí hậu khắc nghiệt tự hào về chiến công hiển hách, khẳng định tầm vóc của Đại tưóng Võ Nguyễn Giáp. Cũng có trường hợp, việc dụng từ địa phương phải dựa vào ngữ cảnh mới hiểu được nhưng khi đã hiểu rồi thì thấy khó mà thay thế những từ ngữ ấy bằng từ toàn dân. Chẳng hạn : Phim trường nước ta, thằng có tài thì xón tiền như đái dắt, thằng bất tài giỏi múa mép thì ôm tiền cả mớ, quyết làm giàu trước khi làm phim.{2,215} Từ địa phương xón, có nơi phát âm són, không có từ toàn dân tương ứng, có nghĩa là bậy ra nhưng rất ít, không đáng kể. Người Quảng Bình, người miền Trung có thể hiểu được  nghĩa của từ xón trong câu văn trên nhưng người đọc dựa vào ngữ cảnh cũng có thể hiểu được ý nghĩa của nó. Từ xón ở đây, ngoài thể hiện màu sắc khẩu ngữ cho câu văn, điều quan trọng hơn là thể hiện thái độ bất bình, phản ứng gay gắt của người viết đối với cơ chế duyệt phim, duyệt kinh phí làm phim thiếu công minh của cấp có thẩm quyền ngành điện ảnh.


Nguyễn Quang Lập dùng từ ngữ địa phương khá dày đặc, nhiều từ xuất hiện tần số cao như: sướng rêm, hay hè, ui ui , ui chầu, ui xời, chi hề, y chang, rứa a,… tạo nên ngôn ngữ nhân vật rất khu biệt, rất gần gũi đời thường của những người dân quê choa từ cuộc đời bước vào trang văn của tác giả. Từ ua chầu chầu xuất hiện nhiều lần trong Kí ức vụn và đây là từ của Nguyễn Quang Lập. Từ ua chầu chầu, Nguyễn Quang Lập dùng trong những trường hợp: thể hiện sự ngạc nhiên, nghi ngờ: ua chầu chầu, văn thơ chi mà sớn sác rứa hề?(lời Hoàng Phủ Ngọc Tường), biểu thị một thái độ kinh ngạc : ua chầu chầu, mần chi mà dữ rứa hè? (lời của Trần Vàng Sao), bộc lộ tâm trang vui tươi: ua chầu chầu, các anh giỏi hè giỏi hè,…


Có trường hợp, Nguyễn Quang Lập dùng cách phát âm miền Bắc không phân biệt n/l để dựng chân dung: Ông Phong Nê đi đái chỉ chửi bậy một câu mà thấu tận tai cấp trên, sắp kỷ nuật rồi. Mình hỏi có can chi không bà, bà gật đầu chép miệng nói tội Phong Nê, mới nàm có vài năm mà bị thay niền.{2,112}


Khẩu văn Nguyễn Quang Lập còn được thể hiện qua cách dùng từ thông tục. Từ thông tục khác với từ khẩu ngữ ở chỗ không nằm trong từ vựng của ngôn ngữ văn hóa, chỉ được dùng trong lời nói miệng thoải mái, thậm chí thô lỗ, tục tằn.Những từ thông tục có thể được dùng trong ngôn từ nghệ thuật làm phương tiện tu từ tạo nên đặc trưng lời nói nhân vật. Đọc Kí ức vụn, ta thấy Nguyễn Quang Lập sử dụng khá nhiều từ thông tục, nhờ đó, ta nhận ra cái khẩu khí đặc biệt của nhà văn. Những từ ngữ vỉa hè bặm trợn, bẩn thỉu, thậm chí tục tĩu xuất hiện khá nhiều nhưng đọc lại không thấy tục. Đó là biệt tài của Nguyễn Quang Lập, nét đặc hữu trong khẩu văn của ông, Nguyễn Quang Lập dùng từ tục rất tự nhiên, có duyên, không phải ai cũng dùng được, không dễ học được.Chẳng hạn: Tau chơi gái nhiều, chưa thấy con nào hay như con này, mao nói rẽ ngôi, hai xoáy giống y chang cái đầu hói xếp tao, khơ khơ khơ.{2,109} Đây là lời kể thằng Tụy trọc phú học đòi, khoe khoang chiến tích chơi thật lố bịch.


Có thể nói, văn Nguyễn Quang Lập trong Kí ức vụn là văn bụi. Ông tự gắn nhãn cho mình là nói tục kẻo nhạt miệng.Do đó, ông có ý thức ngôn ngữ của người bình dân bỗ bã, thô lỗ; nói một câu, có khi chỉ dăm tiếng thì có đến vài tiếng tục. Đó là ngôn ngữ của bác thợ cày, anh xe ôm, chú xích lô, ông khuân vác…, họ văng vào nhau thoải mái, không phải để xúc phạm nhau mà cốt cho sướng miệng, nhằm diễn tả chính xác điều mình cần nói. Dùng từ thông tục, Nguyễn Quang Lập như tự sự với đời, muốn làm người trong cuộc mượn cái tục để chuyển tải những vấn đề bức xúc rất thực, rất đời. Trong Kí ức vụn, các từ  rất tục như cứt, ẻ , ẻ vô, cứt ẻ, cứt đái, cứt nác (nước), đú má, đ.mạ, rặp, đéo, nắt,.. trở thành từ vựng độc quyền của Nguyễn Quang Lập. Nguyễn Quang Lập dùng chúng đúng chỗ, đặt đúng việc nên người đọc không thấy tục mà lại thanh hóa, thành tín hiệu thẩm mĩ gợi cảm xúc người đọc. Chẳng hạn: Ông anh họ cười hậc lên một tiếng, nói è he tau biết nổi tiếng là chi rồi, từ ni tau ẻ vô nổi tiếng.{2,291} Từ thông tục kết hợp với từ phương ngữ trong câu văn trên thể hiện thái độ dứt khoát từ chối nổi tiếng của ông anh họ Phùng Quán.


Trong Kí ức vụn, cái tục cái thanh hòa làm một. Cái tục được sử dụng không phải để tạo cảm giác, gây ấn tượng mà chủ ý của tác giả là tạo cảm xúc thẩm mĩ, gợi cho người đọc những suy nghĩ, triết lý sâu sắc về phận người, kiếp người trong cuộc mưu sinh dâu bể. Cái tục trong văn Nguyễn Quang Lập đã tạo được những phản ứng thẩm mĩ nơi người đọc.


2.3 Cách tổ chức câu văn


Với Kí ức vụn, Nguyễn Quang Lập thì nghiệm một hình thức ngôn từ nghệ thuật mới: văn nói. Hình thức văn nói còn thể hiện ở hình thức tổ chức câu văn. Chiêu thức nổi trội nhất về cách tổ chức câu văn là : câu mà lời thoại diễn ra liền mạch, không có dấu hiệu phân cách giữa những lời dẫn thoại, lời thoại, người kể, người thoại. Kiểu câu này được sử dụng trong tất cả các mẫu kí ức, có tính chất chủ đạo. Chẳng hạn: Con Sử đã lấy chồng, đẻ sinh đôi, suốt ngày ôm con ngóng ra cửa. Mình hỏi thằng Hoàn đâu rồi, con Sử nói chết rồi. Mình hỏi sao chết, nói bảo rắn cắn.{2,15} Bình thường, trong văn viết, ta thấy lời dẫn thoại, người nói, tham thoại, người nghe có sự phân cách rõ ràng bằng những chỗ xuống dòng, bằng dấu câu, nhưng ở Kí ức vụn, các yếu tố trên của một hội thoại chuồi lẫn vào nhau, đan xen liền mạch. Cách tổ chức câu văn của Nguyễn Quang  Lập, như trường hợp trên là tổ chức theo kiểu câu văn nói của giao tiếp đời thường tự nhiên, sinh động, thể hiện sự gần gũi, suồng sã, thân mật giữa các nhân vật. Kiểu câu này lại có sự kết hợp dùng từ địa phương, từ thông tục tự nhiên làm cho người đọc như bị hút hồn. Chẳng hạn: Mụ Cà khóc báo cáo xã đội trưởng oan tui quá. Xã đội trưởng nói răng mà oan, mụ Cà khóc rống lên, nói oan oan, các đồng chí toàn cu, không ai hiểu được bướm .Xã đội trưởng đạp bàn quát câm mồm, xã không có trách nhiệm hiểu cái bướm của mụ ( Xóm gái hoang). Đọc những câu văn trên, người đọc hình dung câu chuyện như diễn ra trước mặt; người đọc như được can dự vào câu chuyện và sẽ không nhịn được cười buộc phải cười thành tiếng. Câu văn Nguyễn Quang Lập gợi nhiều liên tưởng nơi người đọc, tạo được những cảm xúc vừa hài hước, vừa bi thương, cảm thán vô cùng.


Tính chất khẩu ngữ của câu văn Nguyễn Quang Lập còn biểu hiện ở cách tổ chức theo kiểu trùng điệp. Câu văn Nguyễn Quang Lập giống như kiểu nói đan nói lặp trong khẩu ngữ hàng ngày . Chẳng hạn: Không hiểu sao cứ ra khỏi nhà mười bước thì bà mới quay lại gọi Dư ơi, rồi dặn thằng Dư nấu cái này, nấu cái kia, thằng Dư dạ, bà đi thêm mười bước nữa lại Dư ơi, lại dặn lấy cái này lấy cái kia, thằng Dư dạ, bà lại đi thêm mười bước nữa lại Dư ơi, lại dặn mua cái này mua cái kia, thằng Dư dạ, bà đi thêm mười bước nữa, lại dặn trông em thế này cho em ăn cái kia, có đến chục lần như vậy rồi bà mới đi hẳn.{2,9} Câu văn dài lê thê, trùng lặp một cách cố ý nhằm tạo âm điệu nặng nề, buồn tẻ như chính sự bế tắc , cùng quẩn của phận người.


Nhiều trường hợp, câu văn được lặp đi lặp lại và chỉ được làm mới vài khía cạnh nội dung. Chẳng hạn, trong Kí sự vỉa hè có đoạn Cô điếm già cười rich rich, bóp ông biết rồi cái, nói nhà mình không ngăn vách, cứ thông thống. Ông biết rồi vỗ cô điếm già cái bép, cười khe khe khe, nói nhà này toàn đui mù ngăn vách làm gì . Cô điếm già lại cười rich rich, bóp ông biết rồi cái, nói dưng mà ló cứ đi qua đi lại, xí hổ chết. Ông biết rồi vỗ cô điếm già cái bép cái bép, cười khé khe khe, nói sư bố cái này mà biết xấu hổ, bọn đui mù sáng mắt cả rồi. Cô điểm già cười rinh rich, nói mau ôi mau, ông biết rồi cười khé khe khe, nói hay nhẩy hay nhẩy. Ta thấy, các yếu tố hội thoại chuồi lẫn vào nhau kết hợp với kiểu câu trùng lặp có ưu thế là thu hẹp khoảng cách giữa người đọc và người viết, người đọc như đang đối diện với tác giả, như là người trong chuyện, đến khi hết chuyện thì mới sực tỉnh. Các câu văn trùng lặp này, Nguyễn Quang Lập đã bê nguyên xi câu nói hàng ngày vào các tác phẩm của mình. Trong nhiều trường hợp, kiểu câu này có tính thẩm mĩ cao. Chẳng hạn, trong Kí ức năm hào, Nguyễn Quang Lập viết: khi đó mình không khóc, mình nhớ như in khi đó mình không khóc.{2,19} Có lẽ , ai đọc đến đây cũng nhận ra, qua âm điệu của câu văn, Nguyễn Quang Lập đang khóc và nước mắt làm nhòe trang kí ức kể về cái chết thương tâm của người bạn gái tuổi thiếu thời.


3. Kết luận


Từ tiểu thuyết Những mảnh đời đen trắng đến Kí ức vụn, Nguyễn Quang Lập tỏ ra từng trải hơn, chính chắn hơn, hóm hỉnh hơn và thâm thúy hơn. Thị trấn Ba Đồn cùng với lời ăn tiếng nói , tính khí, cốt cách rặt bọ hiện rõ mồn một trong từng trang Kí ức vụn, làm nên một thương hiệu Nguyễn Quang Lập: viết văn mà như nói trên chiếu rượu để khẩu ngữ hóa, tự do hóa ngôn từ nghệ thuật. Với Kí ức vụn, Nguyễn Quang Lập đã chọn cho mình một lối đi riêng, thể hiện sự tự do trong sáng tạo, và chỉ khi có tự do sáng tạo mới đem lại quyền dân chủ cho nhà văn và người tiếp nhận. Với “món ăn” mới lạ này, khẩu văn Nguyễn Quang Lập đã tạo nên một hiện tượng ngôn từ độc đáo, làm phong phú thêm bức trang ngôn ngữ tiếng Việt.


Theo Tạp chí Từ điển học & Bách khoa thư, số 4/2012


..................................................


Tài liệu tham khảo và trích dẫn


{1} Trần Đăng Khoa, Kí ức vụn mà không vụn, Văn học và tuổi trẻ, s.2, 2009


{2} Nguyễn Quang Lập, Kí ức vụn, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2009


{3} Nguyễn Thành Nhân, Nguyễn Quang Lập đắt sô.. nói tục, www.thanhnien.com, 27-11-2009.


{4}Đỗ Cao Sang, Kí ức vụn và dòng văn bạch thoại, www.Blog Quê Choa, 12-4-2009


SUMMARY


In recent years, Writer Nguyễn Quang Lập has introduced a new literary style by using words of khẩu văn {conversational and literary speech combination}. This contribution investigates and analyzes some conversational word classes that Nguyễn Quang Lập is fond of and has brought into his works. This is a way to create vividity and unpredictable association in his work.

Thứ Tư, 24 tháng 10, 2012

1.Thế là tôi ra đời

Trong chứng minh nhân dân của tôi, phần Dấu vết riêng hoặc dị hình có  ghi: Sẹo chấm 0,3cm dưới sau đuôi mắt trái. Đấy là dấu vết ghi nhận ngày tôi ra đời đau đớn và khó khăn như thế nào. Đơn giản vì đầu tôi quá to. Nó to gần bằng cái nồi ba, lại có ngạnh nhô ra hai bên như hai cái sừng bò, bây giờ người ta mới biết đó là u máu, hồi đó thì chẳng ai biết là cái gì, sợ hãi khôn xiết.


Ca đẻ kéo dài bốn tiếng từ bốn giờ chiều đến tám giờ đêm, mạ tôi đã la hét kiệt sức nằm thở thoi thóp trong khi tôi vẫn không chịu ló đầu ra. Bà đỡ vẫn nhai trầu bỏm bẻm, cười nói như không, kì thực mặt bà đã tái mét. Bà nghi đây là ca đẻ ngược nhưng không dám nói, vẫn cứ nhai trầu bỏm bẻm, thỉnh thoảng ho khan mấy tiếng, nói rặn đi em, Y chang người ta dục con nít đi ỉa. Bà ngồi kể chuyện cười cốt để mạ tôi buồn cười cho phọt tôi ra nhưng chẳng ai cười, mình bà hết he he he lại hơ hơ hơ, vô duyên như mấy màn tấu hài đương đại. Bà đã sốt ruột lắm rồi, chẳng việc gì hơn là têm trầu nhai, thỉnh thoảng ho khan và nói rặn đi em. Lâu lâu bà vuốt mép, nói ua chầu, có chuyên ni hay lắm đây. Ngó liếc chẳng thấy ai hưởng ứng, mặc kệ bà cứ kể, đầu chuyện cười he he he, cuối chuyện cười hơ hơ hơ. Tất cả ngôn ngữ chuyên môn của bà chỉ có thế.


Chừng đã phát chán, bà ngáp dài, vỗ mông mạ tôi cái bốp, nói con ni l. to răng đẻ khó ri hè. Chẳng ai cười, bà cũng không cười, nhả miếng trầu này nhét vào miếng trầu khác, nói rặn đi em, câu cửa miệng đã nhàm tai đến nỗi bà cũng chẳng buồn nói nữa. Bà thuộc trường phái câu liêm, trường phái này dùng câu liêm cắt rốn tồn tại bao đời nay đã bắt đầu nhường chỗ cho trường phái dùng kéo mạ kền cắt rốn, gọi là trường phái kéo mạ kền, chỉ duy nhất bác Đông gái một mình một trường phái, được  dân Thị trấn Linh Giang ngưỡng mộ và tin cậy.


Thật không may cho tôi, vào lúc tôi chui ra Đời thì bác Đông gái đang sốt rất cao, uống hết một rổ lá nhọ nồi sắc đặc vẫn không giảm. Bác Đông gái là người hàng xóm tuyệt vời,  bác luôn có mặt những lúc nhà tôi cần bà có mặt, hết lòng giúp đỡ gia đình tôi, kể cả những việc đòi hỏi phải có sự hy sinh lớn mới hòng thu được thành công bác cũng sẵn sàng. Bác là bà đỡ vĩ đại nhất mọi thời đại của Thị trấn Linh Giang. Từ năm mười sáu tuổi cho đến khi bà nhắm mắt xuôi tay, gần hai ngàn người đã ra đời dưới tay bà, tỉ lệ tử vong 0%, tôi không thèm nói ngoa một tí nào. Quá nửa trong số hai ngàn người này đến nay vẫn còn sống, số còn lại đã chết vì rất nhiều lí do, sẽ làm chứng cho quả quyết của tôi. Không phải ai được bác Đông gái đỡ đẻ cũng đều trở thành người tử tế.  Khoảng 10% những kẻ vô tích sự, 10% bọn lưu manh trộm cướp, 10% những kẻ giả danh và bè lũ đạo đức giả ( bọn này đích thị cũng là lũ lưu manh), nhưng nhờ vào đôi tay thần diệu của bà, thị trấn quê tôi phát triển được như ngày hôm nay, đó quyết không phải là lời tâng bốc quá đáng.


          Bác Đông gái được học hành cẩn thận, nghe nói học lớp hộ sinh Pháp dạy ở trong tỉnh, còn bà mụ của tôi thì không. Bà này cực xấu, trên ba chục tuổi vẫn không chưa chồng. Xưa bà bán  đúc ở chợ Thị trấn. Một hôm bánh ế, bà ngồi đến tối om, chợ tàn hết rồi vẫn còn nguyên nửa gánh. Chợ chỉ còn ông gác chợ, ông cũng ế vợ, người ta chê ông nghèo không ai thèm lấy. Bà đang soạn gánh ra về thì ông đi đến, tụt quần cười hề hề, nói tui có cái ni em có đổi bánh đúc không? Bà chửi cha ông gác chợ. Ông gác chợ đè bà ra. Bà lại chửi cha ông gác chợ. Ông gác chợ tụt quần bà ra. Bà lại chửi cha ông gác chợ. Rồi bà kêu á á á… ố ố ố. Rồi bà kêu ứ ứ ứ… ừ ừ ừ. Cuối cùng bà chẳng kêu được nữa chỉ hức hức hức… hừ hừ hừ. Ông gác chợ kéo quần lên, đứng lên cười khe khe khe, nói hay không hay không. Bà cũng kéo quần lên, ngồi dậy cười hi hi hi , nói hay hè hay hè . Ông gác chợ vỗ đít bà phát, nói hay thì về nhà tui. Bà gánh bánh đúc về theo ông liền, nói về thì về, sợ chi. Đêm trở dạ bà ôm bụng rên hừ hừ, nói ông ơi đi tìm cho tôi bà mụ. Ông gác chợ say, nói tìm mô ra, mà tiền mô mà tìm. Bà ôm bụng chửi cha ông gác chợ. Ông gác chợ cho bà mấy bợp tai, nói ngu, xoạc háng ra, thò tay vào túm cổ nó mà lôi ra, chi mà kêu. Thế cùng bà làm theo ông, thế mà mẹ tròn con vuông. Bà cười he he he, nói té ra đỡ đẻ dễ không. Từ đó bà trở thành bà mụ.


          Lâu nay bà chỉ đỡ đẻ cho bà con  quanh Thị trấn, lần đầu bà được gọi đến đỡ đẻ cho vợ ông to trong huyện- ba tôi chỉ là ông phó ban tuyên giáo huyện ủy cũng được gọi là ông to, bà sợ lắm tính không đi nhưng tiếc một đồng hai tiền công bà cũng liều. Bà quá ngạc nhiên khi đứng trước cửa nhà tôi, nó là cái chuồng bò bỏ không. Một ông phó ban tuyên huấn huyện uỷ lại ở cái chuồng bò bỏ không, bà không sao tin nổi. Thực ra ba mạ tôi cũng đã cất được một ngôi nhà ba gian hai chái, nhà tranh vách đất thôi nhưng cũng đủ ấm áp cho sáu anh chị của tôi. Khi ba tôi bị bắt giam vì tội tiểu tư sản phản động cũng là lúc cả nhà tôi bị lùa vào cái chuồng bò bỏ hoang. Ngôi nhà ấy được trưng dụng làm nơi hội họp của cả xóm. Chỉ ba ngày sau, ba tôi được thả ra, được trả lại thành phần, từ bỏ thành phần tiểu tư sản phản động, vinh dự trở về thành phần cùng đinh, nói chữ là thành phần dân nghèo thành thị, thành phần mà bất cứ ai sinh ra và lớn lên ở đây cũng phải mơ ước. Thành phần thì được trả nhưng ngôi nhà thì không.  Ngôi nhà ba gian hai chái không hề phản ánh đúng thành phần cùng đinh, nó là nhà của thành phần trung nông. Nếu ba tôi dám từ bỏ thành phần cùng đinh, nhận lấy thành phần trung nông, lập tức chúng tôi sẽ vĩnh biệt cái chuồng bò rách rưới hôi hám, trở về ngôi nhà yêu quí của mình.


 Nhưng ba tôi không ngu cũng không điên, ông thà ở cái chuồng bò khốn khổ khốn nạn chứ không bao giờ rời bỏ thành phần cùng đinh, thành phần quí như vàng. Thực tế chứng minh ba tôi hoàn toàn đúng đắn. Nhờ vào thành phần cùng đinh, anh cả tôi là người đầu tiên của tỉnh được đi học Liên Xô- một sự kiện long trời lở đất đối với dân Thị trấn, cho đến tận bây giờ vẫn có người nhắc đến với niềm tự hào lẫn ghen tị. Ròng rã sáu năm trời gia đình tôi phải sống trong cái chuồng bò chật chội, hôi hám. Không một ai tỏ ra ân hận vì sự đánh đổi quá to lớn, có thể nói đó là sự đánh đổi trời cho, không dễ gì có được. Chỉ có tôi là ghê rợn khi biết mình phải sống chung với nó.


Từ trong khe hẹp, tôi mở mắt nhìn ra Đời, tức là cái chuồng bò. Lúc đầu tôi không nhìn thấy gì ngoài cái háng bà đỡ đang dạng ra choán cả tầm mắt.  Bà vẫn nhai trầu bỏm bẻm, nói nín thở, rặn mạnh đi em. Mạ tôi tự nhiên thức tỉnh, gào thét điên cuồng, hình như tôi vừa làm gì đó khiến mạ tôi rất đau. Tôi không biết phải làm sao để mạ tôi đỡ đau. Một mớ dây dợ đang cuốn chặt lấy tôi, không cách nào thoát ra khỏi chúng. Tôi đạp chân phải một cái, cốt để rút chân ra khỏi hai sợi dây ruột đang bó quanh cổ chân. Mạ tôi hét một tiếng thất thanh.


Tôi buộc phải dừng lại, mở mắt nhìn ra khe hở hẹp. Vẫn cái háng to bè của bà đỡ, nhìn rõ những sợi chỉ vá đũng quần của bà đã đứt tung rời ra, để lộ một vệt da trắng nhỡn. Tôi không thích cái háng bẩn thỉu ấy một chút nào. Tôi cố đạp một cái nữa và vui mừng khi biết cả hai sợi dây ruột buộc cổ chân  đã tuột ra. Bà đỡ cúi xuống săm soi, mắt sáng lên, nói đầu nó ra đây rồi nì. Bà  vẫn kiên quyết không chịu xếp háng lại, thậm chí mỗi lúc mỗi dạng ra, cái vệt da trắng nhỡn dường như nứt toác, chạy thẳng xuống bẹn, bóc trần một nhúm lông quăn queo ghê tởm. Tôi biết chắc chắn Đời không phải là cái háng thô bỉ  ấy và quyết tâm đưa tầm mắt mình vượt ra khỏi nó, nhưng chịu, tuồng như háng bà mỗi lúc mỗi xoè ra.


          Tôi ưỡn ngực rướn lên. May mắn làm sao sợi dây ruột cuốn quanh bụng bỗng bung ra, tuy vẫn đeo chặt lấy rốn, làm cho tôi khoan khoái vô cùng. Bây giờ chỉ cần thoát khỏi sợi dây ruột cuốn quanh cổ là tôi có thể thoải mái chui ra Đời, chí ít cũng thoát khỏi cái háng mông muội ghê rợn án ngữ tầm mắt rất khó chịu. Mạ tôi cũng đã bớt kêu la, bà chỉ thoi thóp thở và rên ư ử, có lẽ bà đã quá mệt. Tôi bình tĩnh xem xét lại tư thế của mình sao cho chỉ cần đạp mạnh một cú nữa là nhào ra Đời.


          Chừng tám giờ tối, mạ tôi vặn mình liên tục. Tôi hết đảo bên này lại đảo sang bên kia. Trạng thái rơi tự do làm tôi nôn nao khó chịu. May thay khi tôi hết chịu nổi cũng là lúc hai giây chằng quấn quanh bụng  bung ra. Tuyệt vời!  Nhẹ nhàng thoải mái quá! Có một niếm phấn khích chui từ hậu môn, vào khoang bụng, qua cổ họng rồi lên đầu. Niềm phấn khích màu đỏ nâu, mát rượi. Ngắm lại lần nữa thành bụng đầy dây nhợ của mạ tôi trước khi vĩnh biệt chúng, tôi cố lật nghiêng người, dùng hết sức bình sinh đạp mạnh. Mạ tôi rú lên, tiếng rú đau đớn và tuyệt vọng, ôi con ơi! Tiếng rú làm tôi giật mình, nhưng không vì thế tôi từ bỏ ý định chui ra, thậm chí còn quyết tâm hơn. Cần phải nhanh chóng thoát khỏi khoang bụng chật hẹp tăm tối, chiếm lấy một phần không gian rộng rãi giữa Đời.  Vào lúc này điều đó cũng không quan trọng lắm, tôi không hình dung được và cũng không muốn hình dung mình sẽ được Chúa Trời bố trí ở vị trí nào, cao thấp rộng hẹp ra sao. Tôi nỗ lực ra đời  là để mau chóng thoát khỏi cái háng mông muội che khuất tầm nhìn, ít ra phía sau cái háng mông muội kia cũng có cái gì đó hay lắm.


Sau này lớn lên tôi nhận ra suốt cuộc đời tôi luôn luôn bị những cái háng mông muội che lấp tầm nhìn, lúc nào tôi cũng bận rộn với chúng nhưng chưa bao giờ say đắm chúng. Càng ngày tôi nhận ra mối nguy hiếm và giá trị thiêng liêng của những cái háng, tôi ghét chúng nhưng chưa bao giờ đủ can đảm rời bỏ chúng. Chuyện này nói sau.


Mạ tôi kêu la rú rít mỗi lúc mỗi dữ dội hơn, thậm tệ hơn. Bà vừa van xin tôi đừng làm khổ bà nữa vừa kêu rên đời bà thực chẳng ra làm sao. Đặc biệt bà chửi ba tôi như chửi chó. Khi lên cơn kịch phát, mạ tôi mang tên cúng cơm ba tôi ra  réo, điều mà ngày thường không bao giờ bà dám hé môi.  Không khảo mà xưng, bà nức nở rú rít khai man tội trạng của ba tôi đã làm bà ra nông nổi này, cứ như tôi là kết quả sự hiếp đáp vô lương.


Trong đau đớn cùng cực, mạ tôi vẫn còn nhớ cần kể ra những gì và giấu đi những gì, chủ yếu bà lờ tịt cái việc chính bà luôn luôn gợi ý thúc dục ba tôi, một cách tinh vi ranh mãnh, làm ra “ cái nông nổi này” là tôi đây. Tôi thấy hơi tự ái, có lẽ tủi thân thì đúng hơn. Dù thế nào tôi cũng là kết quả của tình yêu, chí ít cũng là tình vợ chồng, tệ nhất cũng là kết quả một thỏa thuận lâu dài hay tức thời. Chuyện này chỉ ít nữa tôi sẽ kể, bây giờ mọi người hãy cứ tin tôi đi.


 Bây giờ là giây phút quyết định, chỉ cần rướn thêm một chút nữa là đầu tôi sẽ tọt hẳn ra ngoài. Tôi thu mình lại chút ít, dùng hai đầu gối tì mạnh vào thành bụng mạ tôi, một hai ba… tôi ẩy mạnh. Chị Ba reo lên, vỗ tay bem bép, nói  a em ra rồi  em ra rồi mạ ơi!  Tiếng reo cô bé mười ba tuổi mới trong trẻo làm sao.  Tôi yêu chị tôi ngay từ giây phút đó.


Tôi cảm thấy phấn khởi vô cùng, muốn bay ra ngay lập tức. Niềm phấn khích lại xuất hiện, cuồn cuộn chui vào hậu môn, vào khoang bụng, chui qua cổ rồi lên đầu. Niềm phấn khích màu đỏ nâu mát rượi, nguồn năng lượng cần thiết giúp tôi hoàn tất giai đoạn cuối cùng: vượt qua cửa tử cung chật hẹp, phóng thẳng ra Đời.


 Hoàn toàn đúng như vậy nếu tôi không thấy con chuột nhắt, không phải, ba bốn con chuột nhắt từ dưới đống rơm lót nền chuồng bò chui ra. Có lẽ không phải nốt, hình như chúng chui ra từ cái háng mông muội đáng ghét kia.


 Những con chuột bé tí, chỉ bằng đầu ngón tay út lại có những đôi mắt rất to, ánh lên vẻ lấc láo xỏ xiên ngay khi chúng vừa sinh ra, đang thao láo nhìn tôi. Tất nhiên tôi không sợ, không việc gì phải sợ lũ súc sinh có trọng lượng nhỏ hơn một ngàn hai trăm lần trọng lượng của tôi.


Trong tôi dâng lên một nỗi căm hờn và khinh bỉ chúng, nỗi căm hờn và khinh bỉ vô lối vì lũ chúng chẳng động gì đến tôi cả, có khi chúng cũng giống chị Ba  đang tự nguyện làm cổ động viên cho sự ra đời chính đáng của tôi. Mặc kệ, tôi không thích chúng, thế thôi. Tôi diễn đạt sự chống đối lũ chuột nhắt  bằng việc co mình lại tụt sâu vào cái xà lim tăm tối của mình.


Tất cả lập tức phản đối.  Mạ tôi rên rỉ , nói  ra cho mạ với con ơi. Bà đỡ  há hốc mồm, hai tay ôm đầu kêu lên, nói răng lạ ri hè răng lạ ri hè. Bà dớn dác tính tháo lui. Bắt gặp cái nhìn nghiêm trọng của ba tôi, bà bèn bẽn lẽn ngồi xuống cười chữa thẹn, nói thằng ni rồi ghê gớm lắm đây.  Buồn cười bà đã gọi tôi bằng thằng khi tôi chưa kịp phơi bày chứng chỉ đàn ông của mình.


 Ba tôi ngồi xuống cạnh bà đỡ, nói con tui đứa mô cũng lì rứa đó. Chị cứ yên tâm. Cùng lắm tui thọc tay vào kéo cổ nó ra. Câu này y chang câu chồng bà đã khuyến dụ bà khiến bà tự tin hơn, bà lom lom nhìn vào hõm sâu, nói anh coi nì, mở to ri răng nó vẫn không chịu ra. Chị Ba ngồi tựa cột khóc thút thít, thỉnh thoảng lại bò tới vỗ vỗ nhẹ vào bụng mạ tôi, nói ra đi cho rồi, mạ khổ lắm em nờ.


Một tiếng sấm đanh gọn xoẹt qua nóc chuồng bò, tiếp liền là một trận mưa dữ dội kéo dài hơn một tiếng đồng hồ, mưa như xốí, có lẽ hơn 100 li, Thị trấn hiếm khi có một trân mưa to như thế. Tiếng mưa cùng với tiếng sấm làm cho tôi sợ, mặc kệ mọi người ra sức thúc dục tôi vẫn chẳng dám chui ra.


 Bác Đông gái hiền lành phúc hậu hay tin tôi không chịu chui ra Đời cũng phản đối quyết liệt. Từ trên giường bệnh bác phát lệnh truyền khẩu cho bà đỡ  là phải bóc - xép khẩn cấp.  Bóc - xép là gì? Đó là một từ tiếng Tây, dịch ra tiếng Việt là cưỡng chế các phần tử chống đối ngay trước cửa tử cung. Bác Đông gái trao cho chị Ba một cái kẹp sắt mạ kền có đính miếng cao su hay bọt biển gì đấy ở hai đầu kẹp, đó là vũ khí chuyên chế sinh sản.


 Khi có vũ khí trong tay, đáng ra bà đỡ phải biết trước sau tôi cũng phải đầu hàng vô điều kiện, không việc gì phải vội vã, thế mà bà đã hành động điên rồ như một kẻ thua cuộc. Không thèm nhúng nước sôi tiệt trùng, bà xộc vũ khí đầy mồ hôi tay vào âm đạo, kẹp lấy hai thái dương của tôi. Bà kẹp rất mạnh, lôi ra cũng rất mạnh, dù tôi đã hoàn toàn chấp nhận thua cuộc trong cuộc đối đầu “ai thắng ai” giữa tự do một mình và tự do hỗ lốn. Một tiếng “phoạp” vang lên cùng với tiếng reo ồ tất cả những ai đang vây quanh âm hộ đẫm máu của mạ tôi.


Tôi khóc thét. Tiếng khóc đau đớn và tức giận vang lên trong cái chuồng bò mười bốn mét vuông chẳng làm ai động lòng. Người ta tranh nhau đoán trọng lượng của tôi là hai cân chín hay ba cân ba, tranh nhau đoán mặt tôi giống mạ tôi, ba tôi, hay ông bà cụ kị tôi. Rốt cuộc tất cả đều khẳng định mặt tôi giống ba tôi như lột, rõ là thói xu nịnh truyền kiếp.


Chưa hết, người ta còn tranh nhau ca ngợi tiếng khóc vang dội của tôi như một tín hiệu tốt lành về một tương lai cực kì tươi sáng dành cho tôi. Vớ vẩn! Tôi đang đau chết đi được. Hành động khủng bố trắng trợn của bà đỡ nhân danh chuyên chính sinh sản đã làm tôi bị thương, một vết xước 0.3cm dưới sau đuôi mắt trái đang chảy máu.


Chẳng có ai  thèm quan tâm, vả, nếu có quan tâm cũng chẳng có ai phân biệt được máu của vết thương dưới sau đuôi mắt trái với máu sinh sản đang tràn ngập cơ thể tôi. Bà đỡ lấy câu liêm đã nung đỏ cắt cái rau cái xoẹt. Cái rau được ba tôi nhanh chóng chôn vào bình rượu bốn lít với đôi mắt sáng ngời. Nhờ nó mà ông có thể chạy bộ trên mười ki lô mét, gánh nặng trên năm mươi cân, ngồi họp trên bốn tiếng đồng hồ, làm tình trên ba mươi phút. Giời ơi, thế mà thơ ca khi nào cũng nức nở về nơi chôn rau cắt rốn của con người.


Tôi đang đói chỉ muốn ăn, thế thôi. Trong tôi hoàn toàn không có cảm xúc chào đời. Mạ tôi đã lịm đi sau bốn tiếng đồng hồ sinh nở. Ba tôi đang đào rãnh nước quanh chuồng bò, ra sức chống cự với đám nước đái bò lúc nào cũng sẵn sàng tràn vào nền chuồng bò. Mưa lớn làm nước từ ngoài đường cái quan tràn xuống chuồng bò.  Ba tôi cuốc cuốc đào đào đến kiệt sức, nước từ đường cái quan vẫn không thôi đổ xuống, mối nguy hiểm làm cả nhà tôi lo lắng. Khéo không mạ tôi sẽ bị nhúng trong nước lạnh, điều kiêng kị vô cùng đối với đàn bà vừa qua cơn vượt cạn


Bà đỡ  vui mừng thoát qua một ca đẻ khó, nhận một đồng hai tiền công ra về cùng với cái háng mông muội và vĩnh viễn không bao giờ trở lại. Bà đã chết khi lội qua một quãng nước ngập, tụt xuống hố sâu. Khi người ta tìm thấy thì bà đã trắng nhợt, tay cầm chặt khư một đồng hai tiền công, giá phải trả cho sự ra đời của tôi.


(Còn nữa)


Rút từ truyện dài Những chuyện có thật và bịa đặt của tôi

Thứ Ba, 23 tháng 10, 2012

Tự trọng cái tự do!

Ngồi viết đau lưng nhức đầu mình bỏ đi cà phê, chẳng ngờ gặp cô bạn thân từ thuở hàn vi. Thân lắm, chuyện gì cũng nói với nhau, kể cả những chuyện kín. Ngồi uống với nhau được 5 phút,  cô bạn bảo tao bỏ chồng rồi, mày biết chưa. Mình bảo rồi, nhưng sao lại bỏ? Thằng đó đẹp trai, kiếm tiền được. Trai thời này được như nó cũng hiếm. Cô bạn cười cái hậc, nói tại bộ phận không nhỏ của nó hỏng bố nó 5 năm rồi. Mình cười, nói mày điên lắm. Bây giờ đã có cháu ngoại, thứ đó chỉ có tác dụng giải khuây, có cũng được chẳng có cũng xong, bí lắm mày gọi tao phát là xong,  sao đến nổi phải bỏ nó?


Cô bạn lại  cười cái hậc, nói tại nó chứ không phải tại tao. Bộ phận không nhỏ của nó hỏng nhưng nó không chịu thừa nhận. Nó bắt tao chạy chữa thuốc thang tốn tiền tỉ. Đêm nào nó cũng hành tao từ đầu hôm cho đến sáng cốt để chứng minh bộ phận không nhỏ của nó không hỏng.  Sở dĩ nó không ngóc đầu lên được là tại tao, tại tao không biết đáp  ứng yêu cầu của nó, không biết hưởng ứng cùng nó. Tao đã không động viên nó lại còn tỏ ra xem thường khinh bỉ nó, tóm lại tao hết sức ngu ngốc và vô trách nhiệm..


Mình nói thì mày cũng phải thông cảm cho tự trọng của nó chứ. Ai không có lòng tự trọng.  Cô bạn  lập tức vằn mắt lên, nói đó không phải là  tự trọng, đó là vô liêm sĩ. Người có tự trọng là khi biết mình hỏng thì xin lỗi và rút lui, chứ không phải điên cuồng chứng mình không hỏng, ra sức dụ dỗ phỉn nịnh, cuối cùng  đổ hết tội lỗi cho  người ta. Tự trọng kiểu gì lạ thế, tự trọng cái tự do! Tiên sư bố các anh.


Hi hi hu hu


Nguyễn Quang Lập

Thứ Hai, 22 tháng 10, 2012

Ai tin Thủ tướng giơ tay lên?

Trưa nay báo mạng cả lề phải lẫn lề trái đưa tin rần rần Thủ tướng xin lỗi vì những yếu kém của Chính phủ ( Tại đây): "Với trọng trách là Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng, tôi nghiêm túc nhận trách nhiệm chính trị lớn của người đứng đầu Chính phủ và xin thành thật nhận lỗi trước Quốc hội, trước toàn Đảng, toàn dân về tất cả những yếu kém, khuyết điểm của Chính phủ trong lãnh đạo, quản lý, điều hành”.


Ts Nguyễn Xuân Diện bình luân tức thì ( tại đây): "Trước hết, cũng xin thành thật hoan nghênh Thủ tướng đã nhận ra lỗi lầm, yếu kém của mình và của Chính phủ, đã mạnh dạn xin lỗi Dân tại Quốc hội. Tuy nhiên, những lời xin lỗi lúc này đều đã muộn. Dân muốn Thủ tướng và Chính phủ những hành động cụ thể! Chứ cứ Vi Na Xin thì Vi Na Like mãi...cũng chán! Một Thủ tướng, một chính phủ yếu kém mà còn vận hành thì gây nên tổn thất, đau thương hơn nữa cho đất nước."


Mình cũng hoan nghênh lời xin lỗi của Thủ tướng nhưng... e hèm, nhưng mà...


Mình nhớ trước đây  vụ Vinashin Thủ tướng cũng nhận lỗi. Nhưng sau đó tại một diễn đàn doanh nghiệp ông nói đại ý:  vì trách nhiệm người đứng đầu chính phủ thì ông nhận lỗi thôi chứ ông chẳng ra quyết định nào sai cả. Trước đây nữa ông cũng nói đại ý  nếu không chống được tham nhũng thì ông sẽ từ chức. Bây giờ tham nhũng cao như núi dài như  sông, chẳng thấy ông từ chức, một lời xin lỗi cũng không.


Đào Tuấn bình rất hay ( tại đây):"Nhận lỗi về chỉ đạo, điều hành, tuy nhiên, báo cáo chính phủ về tình hình KT-XH lại toàn màu hồng, lại tràn đầy sự lạc quan và rất nhiều hứa hẹn."  Mình có hỏi  Nguyễn Vạn Phú, ông nhà báo này rất sành  kinh tế, có thể nói sành nhất trong những nhà báo sành kinh tế, là: kinh tế nước mình có cửa nào sáng không? Phú thở dài lắc đầu, nói không, hoàn toàn không anh ạ. Đành phải nói thật với nhau như thế.


Vì rứa nên sau lời xin lỗi là báo cáo về tình hình KT-XH "toàn màu hồng, lại tràn đầy sự lạc quan và rất nhiều hứa hẹn." thì có nên tin không nhi?


Ai tin Thủ tướng giơ tay lên?


Ai giơ thì giơ, mình không giơ. Mình không tin, hoàn toàn không. Xin thành thật khai báo.


Nguyễn Quang Lập

Chủ Nhật, 21 tháng 10, 2012

Lại bắt cóc

Nếu như ông đại biểu Quốc hội Đặng Thành Tâm không kêu cứu  nhân viên của ổng bị bắt cóc thì mình không bao giờ tin có chuyện công an bắt cóc dân. Thuở nhỏ ham chuyện trinh thám, đọc trinh thám tây thấy cảnh sát bắt cóc ai đó là mình căm ghét vô cùng,  đinh ninh  chỉ có bọn tư bản thối nát mới có chuyện bắt người trắng trợn như vậy. Ở mình, muốn bắt ai thì phải được viện kiểm sát phê duyệt đàng hoàng, công an đến đọc lệnh bắt hẳn hoi. Còn lâu mới có chuyện công an chặn người nhét lên xe đưa đi đâu biệt tăm như nhiều người vẫn kể. Hơn nửa cuộc đời mình đã ngây thơ tin tưởng như vậy.


Nhưng bây giờ niềm tin đã sụp đổ, tiếng kêu cứu của  ông đại  biểu Quốc hội khiến minh tin dưới gầm trời nước Nam không có gì là không xảy ra. Thật là kinh khủng, mình sốc thật sự. Rõ ràng người ta đã coi luật pháp chỉ là cái đinh gỉ,  mỉa mai thay ba chữ quyền công dân.


Thành ra khi đọc đơn kêu cứu của sinh viên Trường Đại Học Công Nghiệp Thực Phẩm Thành Phố Hồ Chí Minh  về trường hợp cháu Nguyễn Phương Uyên bị bắt cóc ( tại đây) là mình tin ngay. Tin và đau xót vô cùng. Nào cháu Phương có tội gì đâu. Theo đơn kêu cứu :"Vào lúc 11 giờ ngày 14/10/2012 bạn của chúng cháu là Nguyễn Phương Uyên đã bị các chú công an Phường Tây Thạnh, Công An Quận Tân Phú khoảng 10 người ập vào phòng trọ dẫn đi và nói là để xác minh một số vấn đề về Truyền Đơn chống Trung Quốc Xâm Lược do bạn ấy dán.Nhưng đến nay vẫn không thấy bạn ấy về. " Chống Trung Quốc xâm lược mà tội a? Nếu chống quân xâm lược là có tội thì bán bố nước Nam này cho xong, khỏi phải cãi nhau mệt!


Bất luận lý do gì, bắt cóc công dân giam giữ bí mật cũng là việc làm hết sức ngang ngược, nó chà đạp lên luật pháp, coi quyền công dân như cỏ rác, cần phải lên án. Có tờ báo lề phải nào lên án chuyện này không nhỉ? Hỡi ôi báo chí nước Nam.


Quan trên có biết việc này không? Tiếng kêu cứu dậy đất, quan trên vẫn ngồi trương mắt nhìn sao? Thất kinh tảng đởm!


Không còn lời nào để nói, hu hu.


Nguyễn Quang Lập