Thứ Sáu, 20 tháng 7, 2012

Được lòng dân, mất lòng quan

Câu chuyện ông Nguyễn Bá Thanh Chủ tịch HĐND TP Đà Nẵng làm cho các giám đốc sở  "toát mồ hôi hột" trong các phiên chất vấn là đề tài được bàn tán sôi nổi nhất trong tuần qua. Cái cách truy tận gốc không khoan nhượng: “Tôi hỏi bao giờ có điện thì trả lời, thế thôi. Trả lời nổi không?"; Lối chất vấn chất vấn đốp chát ông ông tôi tôi cắt ngang lời thẳng thừng:“Ông lo giải quyết trước mùa mưa, không có nói ú ớ gì hết.”;sự chỉ trích không một chút vị nể, chẳng sợ mất lòng ai: “Giám đốc Sở phải chịu trách nhiệm về việc chậm trễ dự án chứ không phải nói lơ mơ, đổ cho chỗ này chỗ kia!”… chẳng những dân chúng không chê trách mà còn tấm tắc khen ngợi.


 Tuy nhiên không hiếm người chỉ trích ông Nguyễn Bá Thanh về thói gia trưởng, lối ăn nói vô nguyên tắc, bất lịch sự và kẻ cả.  Một nhà báo đã lớn tiếng nói rằng: “Ông Nguyễn Bá Thanh làm như thế này thì rất được lòng dân, nhưng ông quên mất Chủ tịch Hội đồng Nhân dân chỉ là người điều khiển phiên họp, dành thời gian thích đáng để các đại biểu chất vấn các giám đốc sở, Chủ tịch mà chiếm hết diễn đàn như vậy thì gọi là vua chứ không phải là người lãnh đạo hội đồng. Cho dù phát biểu với tư cách đại biểu, ông Bá Thanh cũng không có quyền mạt sát các giám đốc sở như vậy. Nếu muốn đánh giá các giám đốc sở thông qua trả lời chất vấn thì phải có nghị quyết của HĐND nơi mà ông cũng chỉ có một phiếu.”


Sự chỉ trích không sai, thậm chí rất đúng. Ông Thanh đã lẫn lộn cuộc họp cơ quan, nơi ông là thủ trưởng với kì họp HĐND, nơi ông “ chỉ được một phiếu”. Ông cũng lẫn lộn ngôn ngữ và ứng xử chốn nghị trường và ở ngoài đời, trong cuộc họp và nơi chiếu rượu. Nhưng đa số dân chúng vẫn ủng hộ ông. Những trí thức dày dặn kinh nghiệm nghị trường như Nguyễn Minh Thuyết, Vũ Mão đều hết lời khen ngợi ông. Vì sao thế?


Ấy là vì “ một bộ phận không nhỏ” quan lại ngày nay thừa quan liêu thiếu liêm chính, thừa tư lợi thiếu chí công. Khi đụng sự họ thường  quanh co trốn tránh trách nhiệm, nếu không đổ lỗi cho khách quan cũng vin vào “chủ trương tập thể”. Không hiếm trường hợp họ còn hắt tội sang cả cho dân. Ngôi nhà Đoàn Văn Vườn ở Tiên Lãng- Hải Phòng bị phá nát là một ví dụ. Số quan lại này thoát được tội lỗi, trốn tránh được trách nhiệm đa phần nhờ vào sự cả nể, bệnh dĩ hòa vi quí và thói ngậm miệng ăn tiền của đồng nghiệp, đồng chí và vô số quan lại nghị lại ngày nay. “Đoàn kết”, “ổn định” là yêu cầu bức thiết, tối quan trọng của Đảng bị họ lợi dụng làm chiêu bài nhằm trốn chạy khỏi những sai lầm, những vi phạm do chính họ và phe nhóm của họ gây ra.


Có lẽ vì thế ông Nguyễn Bá Thanh đã chấp nhận cái sự mất lòng quan để đi đến tận cùng sự thật, bất chấp luật lệ phép tắc chốn nghị trường miễn sao lời ông nói, điều ông làm là có lợi cho dân. Ông đã từng nói “ nếu sai mà thấy có lợi cho dân thì vẫn cứ làm”. Ông cũng từng nói:"Bác Hồ nói một câu rất đơn giản là cái gì có lợi cho dân thì kiên quyết làm, cái gì có hại cho dân thì kiên quyết tránh. Anh cứ vận dụng vô là trúng hết."


Hoan hô ông Nguyễn Bá Thanh! Ông đã đúng, rất đúng. Dân vi quí quân vi khinh, quan nhất thời dân vạn đại. Dân còn thì nước còn, chế độ còn. Mất dân, nước có cũng như không, chế độ còn cũng như mất. Đó là một chân lý.


Nguyễn Quang Lập

Phận đàn bà 1

Năm 1975 hòa bình lập lại, nhà mình cũng rời làng Đông về Ba Đồn, từ đó mình ra Hà Nội học đại học rồi đi bộ đội, mãi đến năm 1986 mới quay về làng Đông, thăm lại ngôi nhà xưa. Bây giờ nó đã là khu vườn hoang, cỏ dại cây dại mọc um tùm, là chỗ đi xia của dân trong xóm. Ngày cũng như đêm hễ đau bụng là người ta xách quần chạy ra đấy. Thời này người ta đi ngoài không dùng giấy vệ sinh, chỉ bẻ que chùi, que không có thì chà đít xuống cỏ, cỏ không có thì chà đít lên đất cày cũng xong. Hi hi nhớ lại mà kinh.


 Suốt buổi chiều mình đứng trong khu vườn xưa, mỏi chân lắm nhưng không dám ngồi vì biết bãi cỏ chẳng sạch sẽ gì. Mình đi về cái giếng đào nhà mình, nơi có mấy hòn đá cực to, tính ngồi nghỉ một chút. Cái giếng xưa như cái ao nhỏ sâu mét rưỡi có mạch nước trong vắt, mùa nào nước cũng đầy ắp, nay chả ai dùng cây dứa dại phủ kín bao quanh. Mình vừa tới giếng chợt thấy một bà chừng hơn năm chục tuổi đang tùm hum thò tay xuống giếng vốc nước uống. Lúc đầu mình không biết đó ai, sau bà vốc nước rửa mặt, cái mặt đen nhẻm đầy bùn đất dần biến mất, mình nhận ra ngay mụ Cà.


 Chuyện mụ Cà bỏ làng Đông ra xóm Bàu, tức xóm gái hoang, có lần mình đã kể.


 Mụ Cà lấy chồng lúc 16 tuổi nhưng mãi không có con, chồng mụ chán đời uống rượu say té xuống ao, chết. Khi đó vào năm 1953 mụ Cà mới 21 tuổi, tham gia đội du kích rất tích cực. Đội trưởng du kích khi đó là cu Miễn, rất khen ngợi mụ, họp đội du kích nói đồng chí Cà nợ nước thù nhà, chiến đấu rất hăng say. Mụ Cà dơ tay đứng lên, nói bá cáo tui chỉ nợ nước thôi, không có thù nhà. Cu Miễn lắc đầu, nói Đế quốc Pháp lừa bịp dân ta cho uống rượu say, nhiều người chết trong đó có chồng đồng Cà, thù nhà của đồng chí Cà là ở chỗ đó đo. Mụ Cà tròn mắt há miệng, nói oa rứa a, oa rứa a.


 Cuối năm 1953 Pháp từ Ba Đồn càn lên làng Đông, dân làng bỏ chạy hết, chỉ còn đội dân quân vẫn ở lại giữ làng. Mụ Cà mải bắn địch một hướng, không biết Pháp vào làng theo hướng khác, anh em du kích bỏ chạy cả mụ vẫn không biết. Mụ bị một thằng Pháp xông đến đè mụ trên cát, hiếp. Mụ Cà chống cự quyết liệt, liên tục hô đả đảo đế quốc Pháp. Thằng Pháp khoẻ hơn, đè riết không cho mụ động cựa. Mụ vẫn không sợ, miệng vẫn hô vang đả đảo đế quốc Pháp. Lúc đầu mụ còn hô to, đầy đủ cả câu đả đảo đế quốc Pháp, sau nhỏ dần hụt hơi hơi dần, đã đảo đế quốc… rồi đả đảo đế… rồi đả đảo…Cuối cùng chỉ còn mỗi đả ả ả ả…Xong om.


 Chuyện mụ Cà bị một lính Tây hiếp cả làng ai cũng biết, bàn tán xôn xao. Cu Miễn họp đội du kích phát động căm thù. Cu Miễn nói đồng chí Cà kể lại cho anh em nghe. Mụ Cà nói kể cái chi? Cu Miễn nói kể việc đồng chí bị giặc Pháp hiếp ra răng. Mụ Cà nói thì cũng giống như lẹo chắc, nhưng đây là hiếp. Rứa thôi, chi mà kể. Đồng chí Cu Miễn không biết lẹo chắc à? Cu Miễn nói đồng chí Cà nghiêm túc vào, hiếp khác với lẹo chắc. Mụ Cà nói nhưng tui không biết kể chi hết. Cu Miễn nói ví dụ giặc Pháp đè đồng chí xuống, xé áo quần đồng chí rất dã man. Mụ Cà nói đúng rồi rất dã man. Tui chống cự rất quyết liệt, vừa chống cự vừa hô đả đảo đế quốc Pháp. Cu Miễn mừng rỡ, nói rứa đo rứa đo, đồng chí kể tiếp đi. Mụ Cà nói chỉ rứa thôi, biết kể chi nữa. Cu Miễn nói lúc đầu răng, cuối cùng ra răng cứ rứa mà kể. Mụ Cà hỏi kể thiệt a? Cu Miễn nói có răng đồng chí cứ kể rứa. Mụ Cà nói bá cáo các đồng chí lúc đầu hắn đâm một phát tui chửi rất hăng, sau hắn đâm nhiều quá, sướng rồi hết chửi. Mọi người cười, vỗ tay ầm ầm, nói ua chầu chầu hay hè hay hè. Cu Miễn tức, đập bàn chỉ tay mụ Cà quát, nói phản động! Bắt mụ ni trói lại cho tui. Mọi người ngơ ngác không hiểu sao.


 Cu Miễn lên giọng chém tay, nói mụ ni hợp tác hủ hoá với giặc Pháp, rứa mà các đồng chí không hiểu còn vỗ tay hoan hô. Mất lập trường rồi các đồng chí ơi! Mụ Cà đứng bật dậy, nói đồng chí Cu Miễn nói rứa oan tui. Cu Miễn đập bàn chỉ mặt mụ Cà, nói mụ Cà kia, tui không đồng chí với mụ. Mọi người nói ua chầu chầu đồng chí cu Miễn nóng quá. Cu Miễn thổi còi cái roẹt hô to, nói cả trung đội đứng dậy, nghiêm! Tôi quyết định đuổi mụ Cà ra khỏi trung đội dân quân. Từ nay không được ai kêu mụ Cà là đồng chí, rõ chưa? Cả trung đội đập chân ưỡn ngực hô rập ràng, nói rõ!


 Đáng lẽ mụ Cà im lặng không kiện cáo gì thì mọi chuyện cũng qua. Nhưng mụ tức, mụ gặp xã đội trưởng kiện đi kiện lại, nói tui không hủ hoá, giặc Pháp hiếp tui thiệt. Xã đội trưởng nói bị giặc Pháp hiếp, đồng chí có căm thù không? Mụ Cà nói bá cáo xã đội trưởng có căm thù. Xã đội trưởng nói căm thù răng lại nói sướng? Mụ Cà nói bá cáo xã đội trưởng tui không sướng. Cu Miễn nói mụ đừng có chối, mụ nói sướng, cả trung đội nghe rõ ràng. Mụ Cà nói tui không sướng. Cu Miễn nói mụ có nói sướng không, mụ Cà nói có, tui có nói sướng. Cu Miễn nói đó, mụ công nhận rồi đó, hết kêu oan nghe. Mụ Cà nói bá cáo xã đội trưởng tui vẫn oan. Xã đội trưởng nói đồng chí Cà nói hay, vừa kêu sướng vừa kêu oan là răng? Mụ Cà nói tui căm thù giặc Pháp, nó hiếp tui, tui không sướng, tại bướm tui sướng chứ tui không sướng. Mọi người cười, vỗ tay ầm ầm, nói ua chầu chầu hay hè hay hè.


 Xã đội trưởng tức, đập bàn quát, nói bậy bạ, dung tục, phản động! Rứa mà các đồng chí còn cười được à. Mất lập trường! Mụ Cà khóc, nói bá cáo xã đội trưởng oan tui quá. Xã đội trưởng nói oan răng mà oan! Mụ Cà khóc rống lên, nói oan oan, các đồng chí toàn cu, không ai hiểu được bướm…Xã đội trưởng đập bàn quát to, nói câm mồm! Xã không có trách nhiệm hiểu cái bướm của đồng chí! Mụ Cà phủi đít quần, nói è he, ẻ vô nói với các đồng chí nữa. Rồi về. Mấy tháng sau đi đâu cũng bị làng xóm chê cười, mụ Cà nói ẻ vô ở làng ni nữa, rồi bỏ ra xóm Bàu ở.


 Từ  đó đến giờ đã hai chục năm, chẳng ngờ gặp mụ Cà ở đây. Mụ Cà cũng nhận ra mình, nói oa chà, con thầy Đạng. Mi đi mô về rứa Lập. Mình chưa kịp trả lời mụ đã nhảy bùm xuống giếng ngụm lặn tha hồ và hét, hét rất to, nói mát lắm vơ làng! Mát lắm vơ làng! Mình biết ngay mụ Cà đã đổ điên.


 Vợ chồng thằng cu Tí con anh Mẹt Vân dựng nhà sát vườn nhà mình, thấy mình về chơi chúng nó chạy ra kéo mình vào nhà, nói anh vô nhà chơi, đứng coi mụ điện làm chi. Mình hỏi sao điên. Thằng cu Tí cười hì hì, nói mụ nhịn qúa hóa điên. Nó kể, nói sau khi xóm Bàu bị bom, mụ Cà chạy lên làng Phù Lưu, năm bảy lăm mới trở về làng Đông. Khi đó mụ chỉ trên bốn mươi, còn ngon lắm, mông bụ còn nẩy lắm. Nhiều người đánh tiếng hỏi mụ làm vợ nhưng mụ chối hết, ai mụ cũng ẻ quẹt ẻ quẹt. Chê cho lắm vào chừ mới ra nông nổi đó. Vợ cu Tí lườm chồng, nói anh không biết thì thôi, tại mụ muốn chứng minh cho làng xóm biết mụ bị Tây hiếp chứ mụ không phải gái hoang như người ta đồn đại, Thằng cu Tí cười cái hậc, nói ngu, nhịn chồng để chứng minh mình là gái đàng hoàng, có ai ngu rứa không. Vợ thằng cu Tí mắt trợn mồm dẩu, nói ngu chi mà ngu. Không nhịn để cả làng nhảy vô hủ hóa à. Vừa lúc bỗng nghe tiếng mụ Cà kêu to, nói vơ làng, ngá l. quá!


 Mình cười phì, chực chạy ra xem. Vợ thằng cu Tí kéo giật lại, nói anh ra đó mần chi, mụ đi xia, chùi đít lên cỏ, cỏ đâm ngứa thì kêu thôi. Thằng cu Tí nhăn răng cười, nói không xia mụ cũng tụt quần chùi đít lên cỏ, khổ thân mấy bà nhịn chồng. Mình hiểu ra cười ha ha, nói hay hè hay hè. Vợ thằng cu Tí lườm mình, nói hay chi mà hay. Mấy người bị tây bắn được khen lên khen xuống, cứu trợ tùm lum. Mụ Cà bị tây hiếp thì khổ rứa đó. Vợ thằng cu Tí bỗng bật khóc, bỏ chạy ra ngoài. Mình hỏi thằng cu Tí, nói vợ mi răng rứa, răng khóc? Thằng cu Tí thở ra, nói nó cảm cảnh đàn bà thì khóc chơ răng. Rồi thằng cu Tí ngồi im, hình như nó chờ đợi điều gì đó.


 Ngoài vườn nhà mình bỗng tiếng mụ Cà rú lên, nói vơ làng, ngá l. quá. Tiếng vợ thằng cu Tí cũng rú lên, vừa rú vừa khóc, nói thím ơi thím đừng kêu nữa nhục lắm. Mụ Cà lại rú lên, vơ làng ngá l. quá. vợ thằng cu Tí cũng rú lên, vừa rú vừa khóc, nói thím ơi thím đừng kêu nữa nhục lắm. Lại mụ Cà rú lên, lại vợ thằng cu Tí rú lên, cứ như thế cho đến khi trời tối vẫn không dứt.


 Thảm thật.


 Nguyễn Quang Lập


 


 

Phim của ai?

Lâu nay tại các liên hoan phim khi nhắc tên một bộ phim người ta thường nói phim này là của đạo diễn kia khiến nhiều người nhầm tưởng phim là của đạo diễn thật. Ngay cả các nhà phê bình điện ảnh, các nhà báo giới thiệu phim cũng mặc nhiên cho rằng phim là tác phẩm điện ảnh của đạo diễn, khi đánh giá thành công hay thất bại của bộ phim họ thường gán cho thành công hay thất bại của đạo diễn. Điện lượt các đạo diễn cũng ngộ nhận luôn phim là của họ, chính họ là cha đẻ của bộ phim, không ai khác.


 Vậy phim có phải của đạo diễn không? Hoàn toàn không, cả phương diện chủ sở hữu tác phẩm lẫn tư cách tác giả của bộ phim.


Về phương diện chủ sở hữu thì phim là của nhà sản xuất. Nhà sản xuất bỏ tiền ra thuê nhà biên kịch viết kịch bản, thuê đạo diễn làm phim. Khi phim ra đời, nhà sản xuất toàn quyền sử dụng phim trong mọi hoạt động kinh doanh và quảng bá, biên kịch và đạo diễn chỉ được một cái quyền duy nhất là quyền hưởng nhuận bút. Cũng như ta xây một cái nhà, chẳng ai bảo đó là nhà của nhà thiết kế hay của nhà xây dựng cả.


Xét về phương diện tác giả thì phim là của một tập thể tác giả, cho dù vai trò của đạo diễn là rất lớn, công sức anh ta bỏ ra cũng rất lớn, có thể nói là lớn nhất, thì anh ta cũng chỉ là một trong các tác giả của bộ phim mà thôi.  Điều đó giải thích vì sao vừa có giải phim vừa có giải cho đạo diễn, và rất nhiều khi phim được giải vàng trong khi đạo diễn chẳng được giải gì sất. Nhìn sang các công trình kiến trúc, kiến trúc sư là tác giả của công trình dù nhiều khi anh ta vẽ nó  chỉ trong một đêm, trong khi tổng công trình sư có thể đổ môi sôi nước mắt cả chục năm nhưng tư cách tác giả của anh ta vẫn là zero.


Vì sao còn tồn động quan niệm phim là của đạo diễn? Điều này có liên quan đến lịch sử điện ảnh. Từ cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20, đạo diễn là thống soái. Thời kì đầu nhà sản xuất chính là đạo diễn, về sau nhà sản xuất chỉ là người bỏ tiền ra cho đạo diễn làm phim, họ là nhà đầu tư chứ không là ông chủ. Kịch bản lúc đầu chỉ là những vạch đầu dòng chủ yếu cung cấp ý tưởng và những gợi ý cho đạo diễn, mọi thứ đều do đạo diễn sáng tác tại trận.Về sau kịch bản được viết ra hoàn chỉnh nhưng đó chỉ là kịch bản văn học, nhà biên kịch chỉ cung cấp câu chuyện, nhân vật và các chất liệu văn học cho đạo diễn chế tạo thành tác phẩm điện ảnh. Cho đến thập niên 70 thế kỉ 20 do nhà biên kịch chỉ sáng tác kịch bản văn học nên vai trò của họ rất mờ nhạt, các nhà biên kịch không thể sánh với các đạo diễn. Vì vậy gọi phim là của đạo diễn tuy không đúng lắm nhưng được mọi người mặc nhiên thừa nhận.


Ngày nay khác rồi. Khi mà nhà sản xuất thực sự là ông chủ, can thiệp vào mọi khâu của sản xuất phim, anh ta quyết định kịch bản, trực tiếp thuê quay phim, thuê nhạc sĩ, thậm chí quyết định luôn cả diễn viên thì đạo diễn đã rời ngôi thống soái, vai trò này thuộc về nhà sản xuất. Kịch bản bây giờ cũng đã khác, nhà biên kịch viết kịch bản điện ảnh chứ không phải kịch bản văn học, kịch bản điện ảnh thực sự là bộ phim trên giấy, và nhà sản xuất yêu cầu đạo diễn làm phim đúng theo kịch bản đã phê duyệt, khi đó vai trò đạo diễn bất quá vai trò của một tổng công trình sư trong các công trình kiến trúc. Đó là một sự thật.


 Vì vậy ngày nay khi nghe người ta nói phim này là của đạo diễn kia thì nên hiểu đạo diễn chỉ là người đại diện của bộ phim chứ không phải bộ phim là của anh ta,  đó cũng là cách tôn vinh các đạo diễn, lối tôn vinh hữu danh vô thực. Sự thật này sẽ làm các đạo diễn nổi khùng, nhưng biết làm thế nào khi đó là sự thật .


Nguyễn Quang Lập

Này hỡi ông Hun Sen!

Vẫn biết trong chính trị người ta thường giở trò láu cá, lưu manh để trục lợi. Tình bạn tình đồng chí nào cũng đều được hô hoán lên là “bền vững” là “vĩnh viễn”, kì thực chúng  đều có tính nhất thời và đều có thể bị bán rẻ bất kể lúc nào. Ai có lợi cho ta là bạn ta, đó là triết lý của chính trị. Trong bài Lợi ích dân tộc, bác Nguyễn Sĩ Dũng đã nhắc lại lời thủ tướng Anh từ giữa thế kỉ 19, ông Lord Palmerston: “Nước Anh không có đồng minh vĩnh viễn và không có kẻ thù vĩnh viễn.


Nước Anh chỉ có những lợi ích vĩnh viễn mà thôi”. Đó cũng là phương châm của tất cả các nhà chính trị khi vận mệnh dân tộc được trao vào tay họ.


Nhưng lợi ích vĩnh viễn của CPC là gì để ông Hun Sen buộc phải phản bội lại khối ASEAN, bán rẻ lợi ích sống còn của các nước lân bang cho TQ? Không lẽ chỉ vì 8 tỉ đô “ nợ xấu” với TQ, hay là 2 tỉ đô tiền “ Phông bao” của TQ cho CPC trước thềm hội nghị ASEAN vừa rồi? Không. Đó là món lợi lớn nhưng không thể là lợi ích vĩnh viễn. Rất có thể “lợi ích vĩnh viễn” là thế này chăng: ông Hun Sen mơ tưởng xây dựng một CPC giàu mạnh dựa trên viện trợ  vô điều kiện dài dài của TQ mà 8 tỉ và 2 tỉ chỉ là món lợi lót đường, món tiền đặt cọc cho tương lai CPC trong vòng tay “người bạn lớn"?


Nếu thế thì ông Hun Sen đã sai lầm.


Cái sự “ đánh bạn” của TQ xưa nay vẫn chỉ một cách: buộc ông bạn nhỏ phải phụ thuộc vào “ người bạn lớn”. TQ chỉ viện trợ dài dài khi và chỉ khi nước đó buộc phải hoặc nghèo đói dài dài hoặc rối loạn dài dài. Bắc Hàn là một ví dụ rõ ràng nhất. Nếu hỏi mười người bao giờ Bắc Hàn hết nghèo đói, bảo đảm có chín người sẽ trả lời: ấy là khi Bắc Hàn hết đánh bạn với TQ. Sự thật này vô lẽ ông Hun Sen không biết?


Ông Hun Sen vốn là một sĩ quan của Khơ Me Đỏ. Ông đã “đảo ngũ” bỏ chạy sang Việt Nam cầu cứu. Ông cầu cứu trước hết cho thân phận ông thôi nhưng nhờ đó dân tộc CPC của ông đã thoát khỏi sự diệt chủng tàn bạo bởi Khơ Me Đỏ, ông được ăn trên ngồi tróc nửa thể kỉ nay. Khơ Mẹ Đỏ do chính TQ  dựng nên, bằng những chính sách tàn bạo và ác hiểm chúng đã giết chết gần 3 triệu trong tổng số 7,1 tr người dân CPC. Nếu Việt Nam không tiếc máu xương tiêu diệt bọn Khơ Me Đỏ chắc chắn dân số CPC chỉ còn 1 triệu “công dân ưu tú” như Pol Pot đã từng tuyên bố. Số dân còn lại là công dân của xứ sở một tỉ dân từ “nước mẹ Trung Hoa” sẽ lũ lượt kéo sang. Theo cách sinh nở cấp số nhân thì chừng 100 năm sau, không, chỉ cần 50 năm sau thôi, người CPC chỉ còn là dân tộc thiểu số giữa hàng trăm triệu người dân TQ. Xong om một dân tộc. Cái gọi là “kì mưu” đó đến đứa con nít cũng biết, vô lẽ ông Hun Sen không biết?


Không ai nghi ngờ ông Hun Sen không yêu nước thương nòi. Nhưng việc ông bán rẻ cả khối ASEAN cho TQ, bán rẻ luôn Việt Nam, người bạn đã đổ máu cho dân tộc của ông, đã  kề vai sát cánh cùng dân tộc của ông suốt nửa thể kỉ qua, là một sai lầm ghê gớm. Nếu TQ chiếm được biển Việt Nam, Malaysia, Philipines, Indonesia thì nói như bác Bùi Văn Bồng, “chỉ cần một cái nhón tay nhẹ nhàng thôi là cả đất nước Chùa Tháp huy hoàng tự bao đời nay sẽ về tay Trung Quốc.”


Khi đó thể nào TQ chả dựng nên một Khơ Me Đỏ mới, một Pol Pot mới, để với một “xã hội triệt để,” “xây dựng xã hội cộng sản dựa trên nông nghiệp thuần túy” CPC sẽ chỉ còn 1 triệu “ công dân ưu tú”. Và điều mà nửa thế kỉ trước TQ không làm được sẽ xảy ra: Số dân còn lại là công dân của xứ sở một tỉ dân từ “nước mẹ Trung Hoa” sẽ lũ lượt kéo sang…Điều này đối với TQ còn quí giá gấp vạn lần so với mấy cái mỏ dầu ở Biển Đông.


Đến lúc đó ông Hun Sen nhất định sẽ ân hận và hổ thẹn. Việc bán rẻ khối ASEAN  có ngờ đâu cũng chính là bán rẻ dân tộc CPC vĩ đại của ông. Này hỡi ông Hun  Sen, có phải thế không?


Nguyễn Quang Lập

Nhúm lông

Mình về quê hội trường, vừa chui từ quán cà phê ra thì thấy một người đàn bà ngồi trên trên ô tô, tay vẫy miệng gọi, nói Lập ơi! Phải Lập đó không? Thì ra chị L., bạn học lớp 5 thời mình theo ba mình sơ tán lên ở thung lũng Chớp Ri. Chị L. bây giờ xinh xắn trắng trẻo còn hơn cả thời chị 19 tuổi, thật không ngờ. Chị rất ra dáng đại gia, tay đeo vòng ngọc, cổ quàng dây chuyền mỏ neo chừng hai cây vàng ròng, đi con Mẹc mới cứng, oách kinh.


 Chị vẫn ngồi trong xe bên tay lái, nói Lập lên xe đi. Thấy mình chần chừ không hiểu chị định đưa mình đi đâu, chị lườm cái cười cái, nói lên xe đi, chị không ăn thịt mày đâu mà lo. Chị nói giọng Bắc ngon xớt, cười có lúm đồng tiền tròn vo làm mình cứ chờn chợn không biết có đúng chị L. thật không hay mình đã lầm. Mình nhớ như in xưa chị không có lúm đồng tiền, nói giọng Cao Lao tiếng nào tiếng nấy méo xệch. Bản tính tò mò, mình leo đại lên xe xem chị đưa mình đi đâu, nói chuyện gì với mình.


 Chị đưa mình ra bãi biển Quảng Tùng, tới một nhà hàng khá sang, sát rặng phi lao ven bãi biển. Bà chủ nhà hàng chạy ra, ngực rung bần bật, kéo miệng cười rộng tới mang tai, nói ôi chị, lâu lắm rồi chị mới tới. Xem cung cách biết bà chủ quí hóa chị L. lắm. Nhìn vào nhà hàng thấy nhân viên táo tác hẳn lên, chạy đi chạy lại mặt mày nghiêm trọng cứ y như quan to đến nhà, tự nhiên mình thấy vui vui.


 Chị L. học lớp 5 với mình khi chị 19 tuổi, không phải chị đi học muộn, tại chị đúp nhiều quá. Bạn học cùng vào lớp 5 với chị đã tốt nghiệp cấp ba, vào đại học mà chị vẫn đang học lớp 5. Chị đọc thông viết thạo, cộng trừ nhân chia cũng tốt nhưng không sao giải được toán đố và toán nhà lầu, loại toán giản ước của lớp 5. Ngoài ra bất kì môn nào chị cũng không thuộc bài, kiểm tra toàn dưới điểm trung bình. Hồi đó không có chuyện xin điểm mua điểm, bù lại được đúp thoải mái, Chị L. đúp lớp 5 đến sáu năm vẫn được học như thường.


 Cô giáo chủ nhiệm phân mình và thằng Quí cùng tổ học tập với chị L. để hai thằng kèm cặp chị cho qua được lớp 5. Chị L. nói chị phải cố học cho xong lớp 5 mới được đi bán cửa hàng hợp tác xã. Ở thung lũng Chớp Ri không có mậu dịch quốc doanh, chỉ có cửa hàng hợp tác xã. Khắp thũng lũng có sáu cửa hàng hợp tác xã, chủ yếu bán vải vóc đường sữa, nước mắm ruốc. Nhân viên bán cửa hàng phải học hết lớp 5, cậu chị làm chủ nhiệm hợp tác xã đã hứa với chị rồi, chừng nào chị học xong lớp 5 sẽ chị cho chị bán cửa hàng. Làm nhân viên cửa hàng khác nào chuột sa chĩnh gạo, chị L. mê lắm, khốn thay chị học mãi không xong lớp 5.


 Học với chị L. sướng nhất trần đời, luôn luôn chị cho ăn uống no nê. Hồi đó chẳng có gì, chỉ hai món khoai xéo, sắn lùi thôi, được ăn no là sướng rồi chẳng mong gì hơn. Thực ra chẳng phải kèm cặp chị. Buổi tối mình và thằng Quí xách cặp đến nhà, chị giao cho hai đứa cái cặp sách của chị và một rá khoai xéo hoặc sắn lùi, nói học giúp chị nha, chị đi đây. Nói rồi chị tót ra khỏi nhà. Tụi mình vừa ăn vừa giải toán, làm bài tập sinh sử địa, soạn văn cho chị xong rồi về, thế thôi, tối nào cũng giống tối nào.


 Mình hỏi thằng Quí, nói chị L. đi mô mà tối mô cũng đi rứa hè. Thằng Quí cười khì, nói thằng ni ngu, đi yêu chứ đi mô. Mình hỏi yêu ai, thằng Quí trợn mắt lên, nói oa chà nhiều lắm. Thằng Quí cùng 11 tuổi như mình nhưng khôn hơn rận. Trong khi mình vẫn đinh ninh mẹ đẻ em ở rốn thì nó đã biết người ta đúc em ở đâu, làm thế nào để không có thai. Nó lẻn vào buồng chị L., lấy ra một cái lá to hơn cái quạt mo, nói chị L. đi yêu khi mô cũng mang theo lá ni. Chị lót dưới lưng, rứa là mần chắc thoải mái, không đời mô có nghén. Thằng Quí có nói tên lá nhưng lâu ngày mình quên mất. Sau này vào lính lên Sơn La gặp một ông người Thái, mình có hỏi ông cái lá ấy, ông xác nhận là có. Mình hỏi tên lá, ông giả bộ lắc đầu không biết, nói lá ấy chỉ đàn bà biết thôi, đàn ông không được biết.


 Mình rủ thằng Quí đi rình chị L. xem chị yêu ra sao, thằng Quí nhảy lên, nói đúng đúng, có rứa mà quên mất. Tối đó chị ra khỏi nhà là tụi mình bám theo liền. Chị L. đi vòng vèo men rìa thung lũng, lội quá suối Roóc, chui vào hang đá vôi. Hang này rất rộng, nhiều ngõ ngách, tụi mình mò mãi mới tìm được chỗ chị yêu. Hang tối mò chẳng thấy gì, chị nghe chị hức hức và kêu to, ôi sướng quá bọ ơi. Lát sau người đàn ông đi ra, tụi mình ba chân bốn cẳng chạy về nhà làm bài cho chị. Làm xong rồi vẫn không thấy chị về, thằng Quí rủ mình chạy vào hang đá xem sao. Tới nơi, lại nghe tiếng chị hức hức, lại ôi sướng quá bọ ơi. Nhưng kì lạ, không phải hai cái bóng mà ba cái bóng. Rõ ràng có hai người đàn ông đang yêu chị.


 Mình ghé tai thằng Quí, nói răng chị L. yêu một lúc hai người. Thằng Quí chặc lưỡi, nói biết được. Bỗng có tiếng cãi nhau. Chị L. kêu to, nói hai người sáu chục ( đồng), răng lại bốn chục. Người đàn ông nói tụi anh chỉ có chừng đó, em thông cảm. Chị L. rú lên, nói đưa ngay thêm hai chục, đưa ngay. Hai người đàn ông bỏ chạy. Chi L. tru tréo chửi, nói vơ cha tổ tụi bay nời, ăn không l. tao nha. Mình với thằng Quí nhảy ra, nói ê ê tụi em biết chị làm chi rồi nha. Chị L. sững lại, từ từ khụy xuống trước mặt hai đứa mình, nói chị phải làm rứa để nuôi cả nhà, chị lạy hai em đừng nói với ai hết. Chị chắp tay vái tụi mình như tế sao, vừa vái vừa khóc.


 Bây giờ chị L. đang ngồi trước mặt mình mặt mày tươi rói, nói nửa thế kỉ rồi Lập hè, mau thiệt. Chị bỏ giọng Bắc nói nguyên xi tiếng bọ. Mình cười, nói em sợ nhận nhầm chị vì hai cái lúm đồng tiền. Mắt chị sáng lên, nói hai tỉ bạc đó, phải sang tận Ing Liềng mới làm được. Mình cười, nói chị bây giờ còn nói được tiếng Anh, ghê quá. Chị cười to, nói thằng ni khinh chị rứa bay. Tau bây chừ tuyền quan hệ với ông to bà nậy, phải đổi giọng bọ ra giọng Bắc cho nó sang, thỉnh thoảng nhả ra mấy tiếng Ing Liềng cho người ta nể.


 Mình nói học hết lớp 5 em về quê, không biết chị làm những gì mà giàu thế. Chị nói chị bán cửa hàng hợp tác xã được 13 năm kiếm được một ít, sau người ta bỏ cửa hàng chị đi buôn trầm, rồi buôn vàng, rồi buôn bán bất động sản. Vốn liếng chừng năm bảy chục tỉ, so với người ta là con tép nhưng chị mãn nguyện lắm rồi. Khởi nghiệp bằng một nhúm lông bây giờ được gọi là bà tỉ phú còn đòi chi nữa.


 Chị bóc tôm hùm cho mình ăn, nói nhớ lại chuyện xưa chị cảm ơn em với thằng Quí quá. Hồi đó tụi bay nói ra thì đời chị tàn, không ngóc đầu lên được mô, thiệt đo. Thốt nhiên chị dừng ăn, nhìn mình chằm chằm, nói mi có quen ông Hiệu Minh không. Mình nói có, cũng có gặp anh ấy đôi ba lần. Chị nói hay là mi kể chuyện đó cho ông nớ. Vừa dứt lời chị à một tiếng, nói mà mi biết răng được. Chuyện đó xảy ra mấy năm gần đây. Mình hỏi chuyện gì. Chị cười to, nói chuyện chị tắm với con cháu 10 tuổi. Nó thấy chị có nhúm lông, nói răng dì có mà con không có. Chị nói lớn lên rồi con cũng có. Nhờ nhúm lông ni mà dì nuôi sống cả nhà đó con. Con cháu liền reo lên, nói a rứa thì con muốn lông mọc đầy cả người con luôn. Kể xong chị lại cười, nói cha tổ cái ông Hiệu Minh, cứ như là ổng núp rình sau nhà tắm chị vậy đó. Xong chị lại cười, đôi gò má đỏ ửng, cặp tuyết lê khép khép mở mở, hai lúm đồng tiền tròn vo rung rung giật giật. Tuổi sáu mươi vẫn còn duyên, tiếng cười vẫn có thể làm đàn ông điêu đứng, thật phục chị quá.


 Tối qua Trần Tién gọi mình đến quán Ziều đỏ nhậu chơi. Mình tới nơi bỗng gặp thằng Quí, té ra nó cũng quen Trần Tiến. Mình kể với nó chuyện mình gặp chị L., nói tỉ phú đó nghe đừng có mà đùa, hai đứa mình bây giờ xách dép cho bả không đáng. Thằng Quí nói mày nghe bả nói làm gì mà giàu? Mình nói bả buôn trầm, buôn vàng mà giàu, sau này buôn bán bất động sản càng giàu to. Thằng Quí cười cái hậc, nói đom! Mày lại nghe mồm bả. Mình trợn mắt lên, nói thằng này không tin à bay, bây giờ trong tay bả có mấy dự án, bả quan hệ toàn ông to bà nậy, kinh lắm. Thằng Quí xua tay nhọn mồm, nói đom đom đom! Rồi nó kéo banh tai mình ra, nói nhúm lông nhúm long đấy… ngu ơi!


 Nguyễn Quang Lập


 

Thằng cu Bợp

Nó tên Thỉ, hình như Ngô Thỉ thì phải. Năm 1967 mình theo ba mình lên làng Dói thuộc thung lũng Chớp Ri được mấy ngày, mẹ nó cũng ôm bọc áo quần dắt nó về làng Dói. Nhà nó ở Quảng Trường, ba nó làm nghề chụp ảnh kiếm được nhiều tiền, mẹ nó xinh gái hát hay, gọi là gia đình hạnh phúc. Không ngờ ba nó theo một cô ở Quảng Tùng, cô này xấu oẳng lại lắm mồm, suốt ngày nhảy về Quảng Trường đánh ghen với mẹ nó. Uất quá mẹ nó li dị chồng, dắt nó về làng Dói.


 Là mình nghe lỏm người lớn kháo nhau thế chứ nó không hề nói gì. Thằng này ít nói kì lạ, như thằng câm. Nó lủi thủi đến lớp lủi thủi về nhà, không chơi với bất kì đứa nào trong lớp.Trừ khi cô giáo hỏi bài hoặc gọi nó đọc bài mới nghe tiếng nó, còn thì nó tuyệt không mở mồm nói với ai một câu gì.


 Nó giao lưu bằng mắt, nhìn mọi người rất thân thiện, lúc nào cũng lấp lánh một nụ cười. Nhưng chỉ thế thôi không gần gũi hơn, ai hỏi gì cũng gật và lắc. Môi chúm chím gật và lắc, mắt cười rất tươi gật và lắc, y chang con gái dậy thì giữa đám đông.


 Tụi mình nghi thằng này giả trai, nghi lắm. Rình nó đi đái không được, cả bọn hè nhau đè nó tụt quần.


 Thằng này quá khỏe, nó đánh bật cả đám, xách quần bỏ chạy. Tức khí thằng Bính nhè lúc nó sơ hở nhảy vào chụp hạ bộ nó kêu to, nói a cu cu, thằng ni có cu bay ơi! Thằng Thỉ khóc òa, nhảy vào đấm đá túi bụi thằng Bính. Hình như đối với thằng Thỉ việc có cu là xấu xa ghê tởm lắm hay sao ấy, hi hi.


 Đấy không phải là chuyện lạ. Chuyện thằng Thỉ có biệt danh thằng cu Bợp mới thực sự là chuyện lạ lùng.


 Một hôm con Hiếu mất năm hào, nó khóc như cha chết. Con Lý xông vào lục lọi túi sách của cả bàn, nó chỉ mặt con Tâm, nói con ni ăn cắp. Con Tâm nhảy chồm chồm, nói láo láo, mi nói láo. Con Lý chụp tay con Tâm vặn ngược, nói đưa năm hào ra mau! Con Tâm khóc ngất, nói cha tổ mi vơ Lý nời, đừng có vu oan giáng họa. Con Lý nghiến răng vặn tay con Tâm. nói kẻ cắp già mồm. Đau quá con Tâm bèn vặn lưng quần chìa ra năm hào cho con Lý, nói năm hào mạ tao cho tao đây. Con Lý cười hé hé, nói cha tổ con ăn cắp. Cả lớp xúm vào lêu lêu con Tâm, nói ê ê đồ ăn cắp. Con tâm khóc rú, xách cặp bỏ chạy về nhà. Con Lý nhìn theo cười hé hé, nói Tâm ơi chết cha mi chưa! Bỗng đâu thằng Thỉ nhảy tới trước mặt con Lý cho nó một bợp tai. Con Lý tru lên chửi, thằng Thỉ lại cho một bợp tai nữa. Nó túm lấy lưng quần con Lý lôi ra năm hào chìa ra trước mặt con Hiếu, nói phải tiền mi đây không? Con Hiếu mừng rỡ chụp lấy, nói đúng rồi, tiền tao rách đôi tao vừa dán lại đây nì. Con Lý đứng đực mặt, nó xấu hổ quá cũng xách cặp bỏ chạy về nhà luôn.


 Kể từ đó cả lớp đứa nào cũng biết biệt tài của thằng Thỉ, gọi nó là thằng cu Bợp. Bốc phét chơi vui nó không để ý, hễ nói láo có hại đến đứa khác là nó nhảy tới cho một bợp tai liền. Nó chỉ bợp tai chứ không đôi co, nếu cãi lại nó cho thêm một bợp tai nữa, thế thôi, rồi bỏ đi. Hi hi cứ như cái bợp tai của nó là chân lý, không cần phải bàn cãi.


 Ít lâu sau làng Đông biết tài của thằng Thỉ. Nhà chị Nga mất con gà chọi. Anh Quyết chồng chị Nga mua cả trăm đồng, hơn một chỉ vàng thời đó. Anh nhốt trong chuồng suốt ngày thế mà mất, mất ngay giữa ban ngày. Chị Nga vác mồm chửi hàng xóm. Lúc đầu chửi xa xa, sau cứ nhè nhà mệ Liệu nhà trước mà chửi. Khổ thân mệ Liệu già yếu khọm rọm, mắt mũi kèm nhèm phải ngồi đực mặt nghe chị Nga chửi. Vừa lúc thằng Thỉ đi học về ngang qua ngõ nhà chị Nga. Nó nhảy vào cho chị Nga một bợp tai. Anh Quyết chạy ra túm cổ thằng Thỉ tính cho nó tan xác. Tụi mình xúm vào ôm lấy thằng Thỉ, nói ê ê đừng tin chị Nga, chị nói láo đó. Thằng Thỉ chỉ bợp tai ai nói láo thôi. Lúc đầu anh Quyết chẳng hiểu mô tê gì cả, sau anh hiểu ra. Anh chạy vào nhà lục hết nồi niêu đem ra ngửi, không ngửi được gì nhưng anh phát hiện một cái lông gà nhỏ dính mép cái nồi bảy. Anh túm tóc chị Nga quật đầu chị xuống sân. Đau quá chị Nga khai chị có nghén thèm thịt gà nhịn không nổi mới lén mổ thịt con gà chọi. Sợ chồng xé xác chị mời bày chuyện đổ hô cho hàng xóm.


 Ngay lập tức tiếng tăm thằng cu Bợp loang khắp làng Dọi. Bây giờ mới nghe mạ nó kể cái tài của nó có từ bé. Ngay khi nó mới ba tuổi nói còn chưa sõi, bà bồ Quảng Tùng của ba nó đến gây sự, dựng đứng đổ điêu cho mẹ nó, nó đã nhảy tới bợp tai bà này. Nó bợp tai ai đó không phải bởi vì nó muốn bợp tai, như là trời xui đất khiến, tự nhiên có ai đó đẩy nó xông vào nhảy tới bợp tai người ta. Nó chỉ bợp tai kẻ nói láo, chỉ kẻ nói láo làm hại người khác. Ở đâu cần vạch mặt kẻ ăn không nói có là người ta nhớ đến thằng cu Bợp, bất kì một cú bợp tai nào của nó liền ngay sau đó đều được xác minh chính xác trăm phần trăm. Kinh. Chả hiểu vì sao.


 Nhiều người coi nó như thánh, như thiên sứ nhà trời, khúm núm gọi nó bằng cậu, hễ gặp nó là một cậu hai cậu. Tụi mình cũng chẳng dám gọi nó bằng thằng, cô thầy cũng kiềng nể nó ra mặt, rất ít khi kiểm tra bài tập, hỏi bài nó. Khi cần phải gọi nó lên bảng hay đứng dậy trả lời, hết thảy cô thầy đều xuống giọng mềm như lụa, nói mời cậu Thỉ. Nó đến lớp như ông thánh con đến dự giờ vậy, sướng kinh. Hi hi.


 Rồi chuyện không may đã đổ xuống nhà nó. Mình nhớ cuối hè năm 1967, còn chừng chục ngày nữa là tựu trường, tối tối tụi mình tụ tập ở sân kho hợp tác chơi nốt những ngày hè cuối cùng. Trong nhà kho người lớn đang họp kiểm điểm anh cu Đán đội trưởng đội 1. Kho hợp tác do đội 1 quản lý vừa mất năm tạ gạo Nhà nước cứu trợ người nghèo. Anh cu Đán bị kiểm điểm lên kiểm điểm xuống cả chục buổi tối rồi vẫn chưa xong. Tối đó có ông L. chủ nhiệm HTX làng Dọi tới dự. Khi ông L. đứng dậy chém tay nói rất hăng, chẳng nghe ông nói gì, chỉ nghe “Bắt, phải bắt, tóng cổ vào nhà giam !” thằng cu Bợp bỏ cuộc chơi lao vào nhà kho nhảy lên cho ông L. một bợp tai. Mọi người ồ lên, nói rồi, thánh truyền! Thánh truyền rồi! Ngay sau đó đội dân quân đến nhà ông L. lục soát và tìm được 5 tạ gạo giấu sau chuồng lợn.


 Ông L. mất chức chủ nhiệm htx. Kể từ đó nhà nó luôn bị quấy phá. Đêm nào cũng bị kẻ nào đó ném đá vào nhà. Có hôm nó đi học về, mở cửa ra thấy nhà nó đầy cứt. Một đêm nó mở cửa ra ngoài đi đái, bỗng ai đó nhảy vào chém một phát vào tay. May nó nhảy lùi kịp thời, dao sợt qua văng một miếng thịt đỏ lòm. Mẹ nó sợ quá vội bán nhà dắt nó bỏ chạy khỏi làng Dói.


 Từ  đó đến nay đã 35 năm mình không hề gặp lại nó, tin tức về nó cũng không. Thỉnh thoảng vẫn kể chuyện này cho bạn bè nghe, chẳng đứa nào tin. Trưa hôm qua nhậu say bét nhè. Mình lên taxi là ngủ, tắc đường cả giờ vẫn không biết. Bỗng có tiếng đập cửa thình thình, mình bừng tỉnh. Xe đang kẹt cứng giữa đường, một người đang dí mặt vào cửa kính nhăn răng cười. Thật không tin vào mắt mình nữa, đó là thằng cu Bợp.


 Mình nhảy ra khỏi xe, vừa chực bắt tay thì thấy tay nó bị cụt ngang cổ tay. Mình nói sao thế này, ai chém? Nó cười, nói tôi. Mình trố mắt nhìn nó, nói sao thế? Nó cười buồn, nuốt nước bọt hai ba lần, ngước lên nhìn mình rầu rầu, nói phải hy sinh bàn tay tôi mới sống được đến giờ. Nó im lặng hồi lâu rồi thở hắt ra mấy tiếng đắng ngắt, nói khó sống quá Lập ạ.


 Hu hu.


 Nguyễn Quang Lập

Anh Cu Bịp

Mình biết anh cu Bịp từ năm 1967, anh hơn mình gần chục tuổi, năm đó mình 11 tuổi, anh đã 19, 20 tuổi rồi. Vào khoảng tháng 8 năm đó nhà mình  được tin anh Huy chết trôi ở huyện Tuyên. Anh Huy là anh thứ tư của mình, nhà nghèo quá học hết lớp 7 anh bỏ học đi làm công nhân đường bộ cho gia đình đỡ một miệng ăn. Anh Huy đi làm được 7 tháng  nhà mình mới nhận được thư, mạ mình mừng quá cầm thư anh khoe khắp làng. Thư về đúng ba ngày thì tin anh Huy chết trôi ở huyện Tuyên ồn khắp làng. Cũng chẳng biết ai đưa tin đầu tiên, ai cũng bảo nghe người ta nói. Năm đó lũ lụt to lắm, huyện Tuyên cứ đến mùa lũ lụt thế nào cũng có nhà trôi người chết, nghe vậy ai cũng tin. Mạ mình khóc lăn khóc lóc suốt ngày đêm, không chịu ăn uống gì cả. Sốt ruột quá, dù đang lũ lụt ba mình vẫn quyết định  lên huyện Tuyên xem sao. Ba mình đi buổi sáng, buổi chiều anh cu Bịp mò đến nhà mình liền.


 Anh  khoác ba lô vào nhà, nói con ở đơn vị với thằng Huy. Mạ mình rú lên túm tay anh hỏi dồn dập. Anh nói cười xởi lởi, nói đồn đại tào lao đó, thằng Huy vẫn bình thường mà. Mình mới 11 tuổi chẳng biết nói gì cứ ôm cột nhà nhìn vết sẹo mảnh vắt ngang cổ anh, hình như có ai đó đã định chém đứt cổ anh nhưng không thành. Bé tí có biết gì đâu nhưng nhìn anh mình vẫn thấy nghi nghi. Có lẽ anh cu Bịp hôi quá, hễ anh mở miệng là hôi rình. Bộ đội, TNXP mình gặp đã nhiều, không ai hôi và nói nhiều như anh.


 Anh ngồi kể chuyện lia xia, nói thằng Huy thế này thằng Huy thế kia. Mạ mình sướng lắm cười hể hả, mình lại thấy những gì anh kể chả giống anh Huy gì cả. Mình cắt ngang lời anh, nói răng anh Huy không viết thư? Anh cười to, nói quên quên, cháu chưa kể, cháu ra tận cổng đơn vị rồi thằng Huy mới biết cháu về phép. Nó chạy đuổi theo dặn có mấy câu chứ không kịp thư từ gì cả. Tất nhiên mạ mình tin sái cổ, bà giữ anh lại nhà ăn cơm, đãi đằng đủ món. Bà chạy mượn đâu được hai chục đồng đưa cho anh cu Bịp, nói nhờ cháu nói với thằng Huy cố gắng ăn uống bồi bổ vào. Rồi bà vui vẻ kể, nói thằng Huy nhà bác tằn tiện lắm. Hắn đi vô Đồng Hới, bác cho hắn một đồng, đến chiều quay về trả lại bác nguyên xi một đồng. Anh cu Bịp cười ha ha, nói được rồi được rồi, bác để cháu trị  thằng Huy cho. Nhất định cháu phải bắt hắn ăn uống bồi bổ. Nghe thế mạ mình cười tít mắt.


Anh cu Bịp ra đi ôm theo hai chục đồng với một bọc to quà cáp mạ mình gửi cho anh Huy. May cho anh, anh đi chừng nửa giờ thì ba mình từ huyện Tuyên trở về, nói thằng Huy không chết, nó chuyển quân sang Cự Nẫm, không ở  huyện Tuyên nữa. Mạ mình ôm mặt rú lên, nói ôi cha trời ơi, tui mất hai chục đồng rồi. Ba mình nghe thế tức lắm, đời ông ghét nhất bọn lừa đảo bịp bợm. Ông cố đuổi theo, lùng sục khắp nơi không thấy anh cu Bịp đâu cả, đến làng nào cũng nghe một trường hợp bị lừa như nhà mình. Anh cu Bịp tung tin ai đó bị chết rồi giả đò đóng vai người cùng đơn vị với người đó về gia đình báo cho gia đình biết người đó còn sống. Thế là chuột sa chĩnh gạo, anh được ăn uống đãi đằng và ôm một mớ tiền đóng quà của người nhà gửi cho người đó rồi biến thẳng. Chẳng ai biết anh ở đâu tên gì, người ta gọi đại là thằng cu Bịp.


Tưởng chuyện anh cu Bịp đến đó là hết, chẳng hiểu trời xui đất khiến thế nào mình lại gặp anh khá nhiều lần, lần nào cũng biết anh bịp mình hẳn hoi nhưng chẳng làm được gì tốt.


Mười năm sau, năm 1977 mình đang học năm thứ ba Bách Khoa Hà Nội. Cứ thứ bảy mình lại ra bến xe Kim Mã nhảy xe bus đi Sơn Tây thăm cô bồ. Hôm đó mình vừa mua vé xong thì gặp ngay anh Cu Bịp. Anh đứng ngay trước mặt mình nước mắt lưng tròng mếu mếu máo máo, nói anh ơi con gái tui bị tai nạn nằm ở bệnh viện Việt Đức…Mình nhận ra anh ngay nhờ vết sẹo mảnh vắt ngang cổ và nhờ cái miệng hôi rình của anh. Mình chộp lấy tay anh, nói anh cu Bịp nhớ tui không? Sắc mặt anh không hề thay đổi, vẫn nước mắt lưng tròng vẫn mếu mếu máo, nói xin anh nhón tay làm phúc. Mình nghiến răng vặn tay anh, nói đ. mẹ ông trả ngay hai chục đồng của mạ tui, trả ngay! Anh khóc rú lên, nói ối anh ơi, mạ anh cho tui hai chục đồng để tui cứu con tui, răng rồi cũng có ngày tui trả lại, chừ tui chỉ xin anh một hai đồng thôi, một hai đồng thôi, cắn cỏ xin anh, lạy anh trăm ngàn mớ lạy. Anh bù lu bù loa khóc to nói to, nói mạ anh là dì ruột tui, dì tui cho tui hai chục đồng răng anh đòi lại. Tui xin anh tiền anh đã không cho còn đòi tiền dì ruột tui cho tui. Mọi người quay lại nhìn mình, những cái nhìn khó chịu và khinh bỉ. Chẳng biết nói thế nào mình đành buông tay anh bỏ đi. Được thể anh chạy theo níu áo mình, nói chỗ con cậu con dì, xin anh một hai đồng thôi, một hai đồng thôi. Đúng là chưa bao giờ mình bị rơi vào tình trạng này, vừa điên tiết vừa xấu hổ. Hai mốt tuổi đầu chẳng biết làm sao, chỉ biết đấm anh ta một phát rồi bỏ chạy.


Mười năm sau (lại mười năm sau, khỉ thế!), năm 1987 mình đang làm báo Văn hóa đời sống ở Huế, anh Văn Lợi cử mình về Hương Điền viết cái kí. Tình cờ mình gặp cô bé xưa cùng hát hò kịch cót với nhau ở đội văn nghệ sư đoàn 375.( Viết đến đây tự nhiên quên biến mất tên cô bé). Cô bé đưa mình về nhà cô chơi. Nhà cô cách phố huyện chừng chục cây số. Về tới nhà không có ai, cô bé nói anh chờ em tí để em đi tìm mạ em. Lát sau cô quay về kéo mình đi ngay, nói anh  ra đình mà xem, cả làng em đang ở đó, mạ em cũng đang ở đó không chịu về. Mình hỏi chuyện chi, cô bé mắt trợn miệng há, nói ua chầu hay lắm, thánh về làng em, thánh chữa bách bệnh, bệnh chi cũng khỏi. Mình cười, không nói gì lẳng lặng theo cô bé xem ông thánh này là thánh thật hay là lang băm.


Mình tới đình làng sững sốt thấy cả mấy trăm người, không, có khi cả ngàn người, ngồi chật kín sân đình, trong khi phía ngoài mọi người đang lũ lượt kéo tới. Cô bé nói không chỉ người làng em mô, nhiều người các làng khác cũng tới. Thánh là thiên sứ nhà trời chỉ về đây đúng một ngày đêm, mạ em nói rứa. Nhác trông mọi người ai nấy mặt mày nghiêm trọng, thành kính ngồi thành hàng lối chờ đến lượt thánh gọi vào, tuyệt không ai gọi to nói lớn, hết thảy đều thầm thầm thì thì, rất kinh. Mình thấy lạ là trong tay ai cũng cầm sẵn bát nước lạnh, hỏi vì sao, cô bé bảo bát nước  để thánh làm phép xong thì uống. Đó là bát nước thánh, uống vào bệnh gì cũng lành.


Máu tò mò khiến mình cố bươn lên phía trước xem thánh là ai, là thế nào. Nhờ có cái thẻ nhà báo nên bà con đều nhường lối cho mình.Vào sâu trong đình vẫn không thấy thánh đâu, cô bé bám theo mình nói thánh ngồi ở hậu cung.
Phải ngồi đây chờ khi thánh gọi mới được vào, dù anh là gì đi nữa nếu thánh không gọi cũng không được vào. Mặc kệ, mình cứ cố chen lên. Đến hậu cung gặp ngay hai ông già đứng canh kiên quyết không cho mình vào. Mình năn nỉ mãi, nói cháu chỉ xem mặt thánh cái là ra ngay. Vừa lúc một người trong hậu cung  đi ra, người khác bưng bát nước đi vào. Qua hai lần vén màn cho người vào, ra mình thấy rành rành cái ông thánh chính là anh cu Bịp.


Mình liều nhảy đại vào, nói này anh cu Bịp, anh còn dám bịp cả mấy trò này à? Tưởng anh cu Bịp giật mình nhảy tót ra khỏi hậu cung. Ai dè anh vẫn mắt nhắm nghiền, tay cầm nén nhang, miệng lẩm nhẩm khấn như không hề có chuyện gì xảy ra. Hai ông già lôi cổ mình ra. Mình nói cháu là nhà báo, cháu sẽ vạch trần. Hai ông già chỉ mặt mình mắng át đi, nói tỉnh trưởng, bộ trưởng đến đây xúc phạm thánh tôi cũng tóng cổ, đừng nói nhà báo với nhà béo. Mình cự lại, cố nói to cho mọi người nghe. Hai ông già bịt miệng mình lôi ra khỏi hậu cung.


 Bỗng có người nói thánh gọi thánh gọi, ngoảnh lại thấy anh cu Bịp đang tươi cười vẫy vẫy, nói vào đây con vào đây con. Mình đi tới, hai ông già ấn mình quì xuống, đặt vào tay mình bát nước lạnh, nói ngửa mặt nhắm mắt nghe thánh truyền. Mình cũng ngửa mặt nhắm mắt xem anh cu Bịp giở trò gì. Chẳng biết anh nói gì, làm gì, khoảng một phút sau anh ghé tai mình rít lên khe khẽ, nói cút cha mày đi cho tau làm ăn, không tao bảo dân xé xác mày ra. Mình mở mắt, anh cu Bịp đang cầm nhang tay khua miệng  khấn, dáng điệu uy nghi như thánh nhập trần.


Ngay sau đó mình bị tóng cổ ra khỏi hậu cung, không dám ho he nữa, sợ lắm. Đến anh cu Bịp còn có dân, hỏi sao không sợ? Hi hi.


Nguyễn Quang Lập